phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình Tín dụng đầu tƣ Phát triển Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển tại Ngân hàng phát triển Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển tại Ngân hàng phát triển Việt Nam 5 CHƢƠNG I - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng đầu tư phát triển 1. Khái niệm Tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là sự hỗ trợ của Nhà nƣớc thông qua các hình thức tín dụng cho các dự án phát triển thuộc lĩnh vực đƣợc Nhà nƣớc khuyến khích.
Về mặt hình thức, tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc cũng dựa trên các quan hệ vay mƣợn có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Nhƣng về nội dung, tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc không phải là hoạt động kinh doanh về tiền tệ của Nhà nƣớc mà là kênh hỗ trợ các nhà đầu tƣ huy động đƣợc vốn cho ĐTPT. Ngày nay, ngoài đầu tƣ trực tiếp, Chính phủ các nƣớc thƣờng sử dụng tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc nhƣ một công cụ khuyến khích đầu tƣ. Khái niệm tín dụng đầu tƣ phát triển chỉ ra đời khi việc sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc cho đầu tƣ phát triển chuyển từ việc cấp phát không hoàn lại sang hình thức cho vay có hoàn vốn là chủ yếu.
Giống nhƣ các hình thức tín dụng khác, tín dụng đầu tƣ phát triển không chỉ giúp cho nền kinh tế tập trung đƣợc lƣợng vốn cần thiết mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển đƣợc nguồn vốn cho đầu tƣ phát triển. Do tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc là một hình thức tín dụng đặc biệt, ở đó thƣớc đo hiệu quả không phải là lợi nhuận cá biệt, mà là hiệu quả xã hội, chính trị, quân sự. Thông thƣờng khi xem xét hiệu quả kinh tế của tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc ngƣời ta phải trả lời các câu hỏi sau: - Tính vĩ mô: tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến các lĩnh vực then chốt, đến ngành, vùng, hay khu vực… của nền kinh tế quốc gia? - Tính vi mô: tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc giúp các chủ thể kinh tế, các nhóm dân cƣ cải thiện chất lƣợng hoạt động nhƣ thế nào? Tính vi mô còn thể hiện ở hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý và thực thi tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc. - Tính xã hội: tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc hỗ trợ nhƣ thế nào các lĩnh vực mà tín dụng thƣơng mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết đƣợc (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tƣ không đƣợc đảm bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tƣ quá dài) nhƣng có vai trò quan trọng đối với xã hội và đất nƣớc nhƣ giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, xoá đói giảm nghèo, 6 điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng,.
- Tính chính trị: tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc hỗ trợ thực thi các chƣơng trình của Nhà nƣớc nhƣ thế nào và đặc biệt là góp phần ra sao trong củng cố sức mạnh xã hội, củng cố lòng tin của dân chúng vào Đảng và Nhà nƣớc. Ngoài ra, ở các nƣớc đang phát triển, khi thị trƣờng vốn còn chƣa hoàn thiện, việc huy động đƣợc đủ vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án phát triển là điều không hề đơn giản. Do vậy, tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc còn phải hỗ trợ thị trƣờng thông qua bảo lãnh cho các chủ thể vay vốn. Quy mô tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc phụ thuộc vào sức mạnh tài chính nhà nƣớc.
Đối với các Nhà nƣớc đang chịu gánh nặng thâm hụt ngân sách thì quy mô tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc khá hạn hẹp. Nếu nhƣ lúc đầu, tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc chỉ có một hình thức duy nhất là cho vay dài hạn với lãi suất ƣu đãi và nguồn vốn chủ yếu là do ngân sách Nhà nƣớc cấp thì đến nay, tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện thông qua hai chính sách lớn là chính sách tín dụng đầu tƣ phát triển (bao gồm cho vay đầu tƣ, bảo lãnh tín dụng đầu tƣ và hỗ trợ lãi suất sau đầu tƣ) và chính sách tín dụng xuất khẩu. Nguồn vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc ngoài ngân sách Nhà nƣớc cấp hàng năm còn đƣợc huy động bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ phát hành trái phiếu, huy động từ các tổ chức kinh tế… 1. Đặc điểm Tín dụng đầu tƣ phát triển có những đặc điểm chính sau: - Là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đầu tƣ nhằm mục đích hƣớng đến việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho nền kinh tế.
- Tín dụng đầu tƣ phát triển có chức năng phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc - Tín dụng đầu tƣ phát triển gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô và vấn đề quản lý hành chính theo chủ trƣơng của Nhà nƣớc. Do đó tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, cho vay là các đơn vị, cơ quan chuyên môn của Nhà nƣớc (hiện nay là Ngân hàng phát triển Việt Nam), đƣợc Nhà nƣớc cấp vốn pháp định, cấp bù lãi suất, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhƣng phải đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tƣ và phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nƣớc. 7 - Tính chất ƣu đãi của tín dụng đầu tƣ phát triển thể hiện ở một số điểm cụ thể nhƣ: lãi suất thấp hơn lãi suất thị trƣờng, quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, điều kiện đảm bảo nợ vay ƣu đãi hơn… - Các quy định về cơ chế, chính sách của tín dụng đầu tƣ phát triển + Lãi suất cho vay do Chính phủ quy định phù hợp với yêu cầu, mục tiêu và đặc điểm của phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc. + Đối tƣợng cho vay: theo quy định của Chính phủ, giới hạn chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế tƣ nhân không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tƣ do hiệu quả thấp, vốn đầu tƣ lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài… Về nguyên tắc, tín dụng đầu tƣ phát triển chỉ cho vay đối với các dự án đầu tƣ theo định hƣớng phát triển của Nhà nƣớc và phải nằm trong kế hoạch đầu tƣ bằng nguồn vốn tín dụng đầu tƣ phát triển hàng năm của Nhà nƣớc.
+ Nguồn vốn để cho vay: là vốn ngân sách của Nhà nƣớc đƣợc cân đối để cho vay đầu tƣ; nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nƣớc để phục vụ cho đầu tƣ phát triển theo chủ trƣơng của Nhà nƣớc. - Tín dụng đầu tƣ phát triển có tính lịch sử, nó chỉ tồn tại và phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc. Khi nền kinh tế phát triển, chuyển sang kinh tế thị trƣờng, các nhà đầu tƣ quen với hoạt động trong môi trƣờng cạnh tranh… thì phạm vi của tín dụng đầu tƣ phát triển thu hẹp lại và chuyển đổi sang các hình thức tín dụng khác. Sự cần thiết của tín dụng đầu tƣ phát triển Bất kỳ một nền kinh tế nào trên Thế giới đều đòi hỏi một sự đầu tƣ nhất định của Nhà nƣớc để tạo nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc cho sự phát triển ổn định và bền vững.
Để thực hiện đƣợc vai trò điều tiết nền kinh tế, Nhà nƣớc sử dụng các công cụ tài chính nhƣ thuế, phí và các nguồn thu khác để tạo nguồn thu cho ngân sách. Vấn đề đặt ra là phải sử dụng nguồn thu này nhƣ thế nào đảm bảo mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng đƣợc yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. 8 Đầu tƣ của Nhà nƣớc cho phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu dƣới hai hình thức là cấp phát không hoàn lại và cho vay với lãi suất ƣu đãi (hay còn gọi là tín dụng đầu tƣ phát triển). Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển, tuỳ vào đặc điểm từng thời kỳ mà Nhà nƣớc sử dụng nặng về hình thức cấp phát hay hình thức tín dụng đầu tƣ phát triển nhằm phát huy một cách có hiệu quả nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nƣớc.
Nhƣ vậy, tín dụng đầu tƣ phát triển là một đòi hỏi tất yếu, khách quan trong từng giai đoạn nhất định của quá trình phát triển kinh tế ở mỗi Quốc gia. Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta hiện nay, sự cần thiết của tín dụng đầu tƣ phát triển còn xuất phát từ các nguyên nhân sau: Thứ nhất: Xóa bỏ tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nƣớc của chủ đầu tƣ Trƣớc đây, trong nền kinh tế bao cấp, sự đầu tƣ của Nhà nƣớc chủ yếu là dƣới hình thức cấp phát trực tiếp không hoàn lại. Điều này dẫn đến các chủ đầu tƣ thƣờng ỷ lại, không tính toán đến hiệu quả của các dự án đầu tƣ cũng nhƣ không tích cực, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc thua lỗ của hàng loạt Doanh nghiệp Nhà nƣớc, sự phá sản của hàng loạt công trình, dự án đầu tƣ trong thời gian qua là một minh chứng.
Chính vì thế mà trong những năm gần đây Nhà nƣớc đã chuyển dần sang hình thức cho vay ƣu đãi dƣới dạng tín dụng đầu tƣ phát triển nhằm tăng cƣờng tính chủ động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của Chủ đầu tƣ và Doanh nghiệp.