Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ và giới thiệu về kho bạc Chương 2: Thực trạng và đánh giá rủi ro hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước quận 10 TPHCM. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước quận 10 TPHCM. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ GIỚI THIỆU VỀ KHO BẠC 1.1 Bản chất của hệ thống kiểm soát nội bộ: 1.1 Định nghĩa: Quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau từ đơn giản đến phức tạp về hệ thống này. Đến nay, định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
Các luật lệ và quy định được tuân thủ. Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” 1 Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Chúng được hiểu như sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. Kiểm soát nội bộ đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời. Cần hiểu rằng kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục biểu mẫu… mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban Giám Đốc, các nhân viên khác… chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối, là các mục tiêu sẽ được thực hiện.
Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xẩy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xẩy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý 1 Định nghĩa này được đưa ra vào năm 1992 bởi COSO (Committee of Sponsoring Organization). COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting, hay còn được gọi là Treadway Commission).
Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA). COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là: - Thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau. - Công bố đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống kiểm soát của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện. Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề: Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Integrated Framework).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vuợt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro. Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ. Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải bảo đảm về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định. Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị. Bên cạnh đó, kiểm soát nội bộ còn phải hướng mọi thành viên trong đơn vị vào việc tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị, qua đó bảo đảm đạt được những mục tiêu của đơn vị. Đối với mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kiểm soát nội bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị… Như vậy, các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng, chúng bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.
Năm 2004 COSO đưa ra báo cáo COSO 2004 mở rộng về hệ thống kiểm soát nội bộ, trong đó thảo luận rộng hơn về quản lý rủi ro doanh nghiệp. Quản lý rủi ro doanh nghiệp không có ý định thay thế hệ thống kiểm soát nội bộ mà kết hợp hệ thống kiểm soát nội bộ trong đó. Doanh nghiệp có thể quyết định xem xét khuôn khổ quản lý rủi ro doanh nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của họ, vừa hướng tới một quá trình quản lý rủi ro đầy đủ hơn. Định nghĩa về quản trị rủi ro doanh nghiệp: là một quá trình ảnh hưởng bởi Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong doanh nghiệp được áp dụng trong việc thiết lập chiến lược của doanh nghiệp, được thiết kế xác định các sự kiện tiềm tàng mà nó ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp và quản lý các rủi ro doanh nghiệp muốn kiểm soát, cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Quản lý rủi ro doanh nghiệp là: - Một quá trình liên tục và xuyên suốt trong doanh nghiệp. - Ảnh hưởng bởi mọi nhân viên ở mọi cấp của doanh nghiệp. - Áp dụng trong việc thiết lập chiến lược. - Áp dụng trên toàn doanh nghiệp, ở mọi cấp độ và bộ phận và bao gồm một danh mục toàn bộ mức độ rủi ro.
- Xác định các sự kiện tiềm tàng mà nếu nó xảy ra sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp và quản lý các rủi ro doanh nghiệp muốn kiểm soát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho Ban giám đốc và nhà quản lý doanh nghiệp. - Hướng tới một hoặc hơn hai mục tiêu nhưng trùng lắp với nhau.2 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo báo cáo COSO 1992 mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, thế nhưng bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản. Theo quan điểm phổ biến hiện nay2, kiểm soát nội bộ bao gồm các bộ phận sau: Môi trường kiểm soát. Đánh giá rủi ro.
Hoạt động kiểm soát. Thông tin và truyền thông. Theo COSO 2004 hệ thống kiểm soát nội bộ gồm thêm ba bộ phận sau: Thiết lập mục tiêu Nhận dạng sự kiện Phản ứng với rủi ro So sánh giữa báo cáo COSO 1992 và COSO 2004: Yếu tố COSO 1992 COSO 2004 Tên gọi Hệ thống kiểm soát nội Quản trị rủi ro doanh bộ nghiệp Định nghĩa Là một quá trình do Là một quá trình ảnh người quản lý, hội đồng hưởng bởi Ban giám quản trị và các nhân đốc, nhà quản lý và các viên của đơn vị chi phối, nhân viên trong doanh nó được thiết lập để nghiệp được áp dụng cung cấp một sự đảm trong việc thiết lập chiến bảo hợp lý nhằm thực lược của doanh nghiệp, hiện ba mục tiêu: Báo được thiết kế xác định cáo tài chính đáng tin các sự kiện tiềm tàng mà cậy, các luật lệ và quy nó ảnh hưởng đến toàn định được tuân thủ, hoạt bộ doanh nghiệp và động hữu hiệu và hiệu quản lý các rủi ro doanh quả nghiệp muốn kiểm soát, cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp 2 Theo Báo cáo của COSO TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Các bộ phận 5 bộ phận 8 bộ phận Môi trường kiểm soát. Môi trường kiểm soát.
Đánh giá rủi ro. Đánh giá rủi ro. Hoạt động kiểm soát. Hoạt động kiểm soát.
Thông tin và truyền Thông tin và truyền thông. Thiết lập mục tiêu Nhận dạng sự kiện Phản ứng với rủi ro 1.1 Môi trƣờng kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là: 1.1 Tính chính trực và giá trị đạo đức: Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá trình kiểm soát. Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp.
Muốn vậy, những nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp. Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực.2 Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ được giao không hữu hiệu và hiệu quả.