phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm soát nội tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội - Chi nhánh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội - Chi nhánh Bình Định e 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ Trong một tổ chức, luôn có sự mâu thuẫn lợi ích: giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích của ngƣời lao động với lợi ích của tổ chức. Để giải quyết đƣợc mâu thuẫn này cần phải đặt ra quy định kiểm soát ràng buộc để cá nhân không vì lợi ích riêng mà ảnh hƣởng đến lợi ích tập thể. Để thực hiện chức năng kiểm soát, các nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là hệ thống KSNB.
Dƣới góc độ chủ động, phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Khái niệm KSNB bắt đầu đƣợc sử dụng vào thể kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán. Năm 1929, thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” đƣợc đề cập lần đầu tiên bởi Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ: “Kiểm soát nội bộ là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động”. Năm 1936, Hiệp hội Kiểm toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”.
Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt Báo cáo và hƣớng dẫn về KSNB trong các cuộc kiểm toán. Đến thập niên 1970, KSNB đƣợc quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hƣớng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. e 8 Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời nhƣ: Phát triển theo hƣớng quản trị: năm 2001, dựa trên Báo cáo COSO 1992, COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp. Bên cạnh Báo cáo COSO, theo Báo cáo Basel 1998 của Ủy ban Basel các ngân hàng trung ƣơng cũng công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng.
Hiện nay, KSNB đã có nhiều bƣớc tiến và hoàn thiện hơn so với trƣớc đây và các nhà quản trị cũng sử dụng 2 Báo cáo COSO và Basel để làm tiêu chuẩn trong việc xây dựng hệ thống KSNB trong đơn vị. Theo báo cáo COSO COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (The National Commission on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission). Hội đồng quốc gia này đƣợc thành lập vào năm 1985 dƣới sự bảo trợ của 5 tổ chức là: • Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) • Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association) • Hiệp hội quản trị viên tài chính (the Financial Executives Institute – FEI) • Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA) • Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (the Institute of Internal Auditors – IIA) Sự ra đời của Hội đồng quốc gia theo sau hàng loạt các sự kiện về tài chính và chính trị ở nƣớc Mỹ thời bấy giờ nhƣ vụ Watergate (1973) dẫn đến sự ra đời của Luật chống hối lộ ở nƣớc ngoài (1977); AICPA thành lập một Ủy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979); Ủy ban quản lý chứng khoán Mỹ (SEC) đƣa ra quy định bắt buộc các giám đốc phải đƣa ra báo cáo về hệ thống e 9 kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp (1979); AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán số 30 (1980); Hội kiểm toán viên nội bộ ban hành chuẩn mực số 1 (1983); AICPA ban hành hƣớng dẫn bổ sung về tác động của việc xử lý bằng máy tính đến kiểm soát nội bộ. Các sự kiện trên có một điểm chung đó là làm dấy lên sự quan tâm của công chúng đến vấn đề kiểm soát nội bộ bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các nghị sĩ, các giám đốc điều hành, các kế toán và kiểm toán viên… Thực tế trên đã tạo ra rất nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về kiểm soát nội bộ (KSNB) cũng nhƣ cách thức đánh giá thế nào là một hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các hội nghề nghiệp, giới doanh nhân và học giả.
Báo cáo COSO ra đời nhằm đƣa ra một định nghĩa, một cách hiểu chung đƣợc chấp nhận rộng rãi về KSNB và cũng nhằm hỗ trợ các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện kiểm soát tốt hơn doanh nghiệp của mình. Báo cáo COSO 1992 Cấu trúc của Báo cáo COSO (1992) Báo cáo COSO gồm 4 phần: Phần 1: Tóm tắt dành cho nhà quản lý Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về KSNB ở mức độ cao dành riêng cho các nhà quản lý, giám đốc điều hành, ban giám đốc, các nghị sĩ và cơ quan quản lý nhà nƣớc. Phần 2: Khuôn khổ chung của KSNB Đây là phần cơ bản nhất của Báo cáo COSO, trong đó có định nghĩa về KSNB, mô tả các bộ phận hợp thành của KSNB, đƣa ra các tiêu chí giúp ban giám đốc, nhà quản lý và các đối tƣợng khác đánh giá hệ thống KSNB. Phần 3: Báo cáo cho bên ngoài Đây là tài liệu bổ sung, cung cấp hƣớng dẫn cho các tổ chức cách thức e 10 báo cáo cho các đối tƣợng bên ngoài về hệ thống KSNB cho mục tiêu báo cáo tài chính.
Phần 4: Công cụ đánh giá hệ thống KSNB Đƣa ra các hƣớng dẫn, gợi ý rất thiết thực cho việc đánh giá hệ thống KSNB. Báo cáo COSO định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, đƣợc thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu sau đây: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”. Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lƣu ý, đó là: quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Các bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB Theo Báo cáo COSO (1992) thì một hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đó là: Môi trƣờng kiểm soát Đánh giá rủi ro Hoạt động kiểm soát Thông tin và truyền thông Giám sát.
Trong môi trƣờng kiểm soát, nhà quản lý đánh giá rủi ro đe dọa đến việc đạt đƣợc các mục tiêu cụ thể. Hoạt động kiểm soát đƣợc tiến hành nhằm đảm bảo rằng các chỉ thị của nhà quản lý nhằm đối phó với rủi ro đƣợc thực hiện trong thực tế. Trong khi đó, các thông tin thích hợp cần phải đƣợc thu thập và quá trình trao đổi thông tin diễn ra thông suốt trong toàn bộ tổ chức. Quá trình e 11 trên sẽ đƣợc giám sát và điều chỉnh lại khi cần thiết.
Các bộ phận hợp thành này của hệ thống KSNB có tính linh hoạt cao. Ví dụ: đánh giá rủi ro không chỉ ảnh hƣởng đến các hoạt động kiểm soát mà còn có thể chỉ ra nhu cầu xem xét lại thông tin và truyền thông hoặc hoạt động giám sát trong tổ chức. Vì vậy KSNB không đơn giản là một quá trình – ở đó mỗi bộ phận hợp thành chỉ ảnh hƣởng đến bộ phận kế tiếp – mà thực sự là một quá trình tƣơng tác nhiều chiều – trong đó bất cứ bộ phận nào cũng có thể ảnh hƣởng đến bộ phận khác. Do đó, mặc dù mọi doanh nghiệp đều cần có các bộ phận nói trên nhƣng hệ thống KSNB của họ lại rất khác nhau tùy theo ngành nghề, quy mô, văn hóa và phong cách quản lý.
Báo cáo COSO 2004 Báo cáo COSO 2004 thay đổi theo hƣớng về quản trị rủi ro. Tƣơng tự nhƣ định nghĩa nhƣ Báo cáo COSO 1992, theo Báo cáo của COSO năm 2004 thì quản trị rủi ro (QTRR) doanh nghiệp là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, đƣợc áp dụng trong việc thiết lập các chiến lƣợc liên quan đến toàn đơn vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, đƣợc thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hƣởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận đƣợc của rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt đƣợc các mục tiêu của đơn vị. Theo định nghĩa trên, các nội dung cơ bản của QTRR là: quá trình, con ngƣời, thiết lập chiến lƣợc, áp dụng toàn đơn vị, nhận dạng sự kiện, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Chúng đƣợc hiểu nhƣ sau: Quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình: QTRR bao gồm một chuỗi các hoạt động liên tục tác động đến toàn đơn vị thông qua những hoạt động quản lý để điều hành sự hoạt động của đơn vị.
Quá trình quản trị rủi ro doanh e 12 nghiệp giúp đơn vị tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra và góp phần hoàn thành sứ mạng của đơn vị. Quản trị rủi ro doanh nghiệp đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời: QTRR không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà phải bao gồm những con ngƣời trong đơn vị nhƣ hội đồng quản trị, ban giám đốc và các nhân viên khác. Mỗi cá nhân trong đơn vị với những đặc điểm riêng sẽ tác động đến cách thức ngƣời đó nhận dạng, đánh giá và phản ứng với rủi ro. Với QTRR, đơn vị cung cấp cho mọi ngƣời khuôn khổ chung về rủi ro trong phạm vi mục tiêu hoạt động của đơn vị.
Quản trị rủi ro đƣợc áp dụng trong việc thiết lập các chiến lƣợc: mỗi đơn vị thƣờng thiết lập các sứ mệnh cho tổ chức của mình và các mục tiêu liên quan để đạt đến sứ mệnh đó.