CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘHOẠT ĐỘNG CHO VAY TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Kiểm soát nội bộ 1.1 Khái niệm Trong lịch sử hình thành và phát triển, Kiểm soát nội bộ luôn là vấn đề quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học, khái niệm Kiểm soát nội bộ đã được đúc kết và hình thành bằng nhiều cách khác nhau, qua thời gian khái niệm này ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn, thể hiện được tinh thần cốt lõi của KSNB. Trong những năm cuối thế kỉ XIX, thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện. Các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến kiểm soát nội bộ để thực hiện công việc nhận xét báo cáo tài chính. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều quan điểm khẳng định kiểm soát nội bộ là công cụ để nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, bao gồm biển thủ tài sản và trình bày sai trên BCTC.
Theo khuôn khổ SAC (Systems Auditability and Control) - Kiểm soát và Khả năng kiểm toán các hệ thống thông tin, KSNB là một tập hợp các tiến trình, các chức năng, các hoạt động, các hệ thống và con người – được tổ chức thành từng nhóm hay được phân tách có mục đích nhằm bảo đảm việc đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu mà có thể đo lường cụ thể. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (2009), KSNB được hiểu là “một quá trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ”. Theo Basel (2010), KSNB là nhằm đảm bảo rằng ban quản lý cấp cao e 7 thiết lập và duy trì hệ thống và quy trình KSNB đầy đủ và hiệu quả. Các hệ thống và quy trình cần được thiết kế để đảm bảo trong các lĩnh vực bao gồm báo cáo (tài chính và hoạt động), giám sát việc tuân thủ pháp luật, các quy định và chính sách nội bộ, hiệu quả của hoạt động và bảo vệ tài sản.
Theo COSO năm 1992 (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission)- Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính, KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện mục tiêu: (i) Báo cáo tài chính đáng tin cậy; (ii) Các luật lệ và quy định được tuân thủ; (iii) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn là vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ. Sau hơn 20 năm, COSO đã ban hành bản cập nhật mới là COSO Internal Control 2013, theo đó, KSNB là tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315:“KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”. Theo điều 39, Luật kế toán Việt Nam năm 2015 nêu rõ: “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Từ những khái niệm được đúc kết qua nhiều định nghĩa như trên, ta có thể khái quát nội dung chính của khái niệm kiểm soát nội bộ gồm những ý chính sau: - Kiểm soát nội bộ hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. - Kiểm soát nội bộ là một tiến trình bao gồm các tác vụ và hoạt động được thực hiện liên tục- là phương tiện để đạt được mục đích hơn là mục đích cuối cùng.
-Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi con người: KSNB không đơn thuần là các chính sách và các hướng dẫn thực hiện các thủ tục, các hệ thống, các khuôn mẫu, mà là về con người và các hành động được thực hiện ở các cấp trong cơ cấu tổ chức để thực hiện kiểm soát nội bộ, làm cho kiểm soát nội bộ có hiệu lực. - KSNB đem lại sự đảm bảo ở mức độ hợp lý chứ không tuyệt đối cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. - KSNB có thể thích ứng với các cơ cấu tổ chức khác nhau, kể cả các bộ phận khác nhau trong một tổ chức.2 Ý nghĩa của Kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu đã vạch ra và hạn chế đến mức thấp nhất các vấn đề bất lợi xảy đến với tổ chức.Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động e 9 và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động bằng việc thực hiện các cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp.
KSNB được kỳ vọng có thể giải quyết được nhiều vấn đề trong tổ chức. Giúp cho nhà quản lý thích ứng với môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức thường xuyên biến đổi nhanh chóng.Một hệ thống KSNB hữu hiệu tạo điều kiện bảo đảm kinh tế, hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động, tính tin cậy của báo cáo nội bộ và báo cáo bên ngoài. Tăng cường tính tuân thủ với các luật và quy định. Trên cơ sở đó, kiểm soát nội bộ đóng góp vào việc bảo đảm tính sinh lợi của khoản đầu tư chủ sở hữu của tổ chức.3 Yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của Kiểm soát nội bộ Quy trình hoạt động và quy trình kiểm soát nội bộ được xác định rõ ràng bằng văn bản và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ công ty.
Đảm bảo mọi cán bộ, nhân viên tại đơn vị đều phải quán triệt được tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quá trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của bản thân họ và phải tham gia thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các quy định, quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ liên quan. Các hoạt động rủi ro được phân tách rõ ràng giữa những nhân viên khác nhau. Trong một tổ chức, các công việc cần phân công đồng đều, phù hợp với năng lực và trình độ của từng cán bộ, tránh trường hợp người làm việc quá nhiều người không có gì để làm, công việc chồng chéo dẫn đến nhiều rủi ro không kiểm soát được. Tất cả các giao dịch phải được thực hiện với sự uỷ quyền thích hợp.
Cơ chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong đơn vị.Cơ chế phân cấp ủy e 10 quyền phải được thiết lập, thực hiện một cách hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh các xung đột lợi ích; đảm bảo một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ trong đơn vị không có điều kiện để thao túng hoạt động, bưng bít thông tin phục vụ các mục đích cá nhân hoặc che giấu các hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội bộ. Mọi nhân viên đều phải tuân thủ hệ thống kiểm soát nội bộ. Tổ chức cần phải bảo đảm mọi thành viên của tổ chức chịu trách nhiệm về việc thực hiện các trách nhiệm kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Trách nhiệm kiểm tra và giám sát được phân tách rõ ràng.
Việc kiểm tra giám sát giúp phát hiện ngay các sai sót và gian lận hoặc sự không tuân thủ nếu xảy ra trong quá trình làm việc của cá nhân. Trách nhiệm được phân tách rõ nhằm đảm bảo việc kiểm tra, giám sát mang tính khách quan. Định kỳ tiến hành các biện pháp kiểm tra độc lập. Kiểm tra là việc xem xét một đối tượng có phản ánh đúng thực tế hoặc có tuân thủ các quy định đã ban hành hay không.
Kiểm tra độc lập giúp đảm bảo tính khách quan của quá trình kiểm tra. Việc kiểm tra độc lập định kỳ giúp phát hiện ra các sai sót, gian lận, ngoài ra còn có tác dụng nhắc nhở, tạo nền nếp làm việc tuân thủ các quy định, các yêu cầu công việc được giao. Mọi giao dịch quan trọng phải được ghi lại dưới dạng văn bản. Việc ghi lại dưới dạng văn bản là bằng chứng tốt nhất thể hiện được những gì đã thực hiện.
Thực hiện tốt những nguyên tắc đó sẽ mang lại cho công ty một hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả, ngăn ngừa rủi ro và sai phạm, nâng cao chất lượng thông tin khiến cho các nhà quản lý quản trị doanh nghiệp một cách phù hợp nhất. Mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động của đơn vị đều phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản e 11 lý rủi ro thích hợp.