CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH HỒ SƠ CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận về Ngân hàng thương mại và công tác thẩm định hồ sơ cho vay Khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người.
Theo quan điểm của Mác: Tín dụng là sự vay mượn một lượng giá trị giữa người sở hữu và người sử dụng để sau một thời gian người sở hữu (người cho vay) sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, các nhà kinh tế học sau Mác đã đi sâu luận giải nhằm hoàn chỉnh khái niệm tín dụng như sau: Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên vay. Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán. Luật các TCTD của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 quốc hội khóa 10 ngày 12/12/1997 thì “Cấp tín dụng là việc TCTD thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác”.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chức kinh tế và dân cư. Với tư cách là tổ chức huy động để cho vay, ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình. Các hình thức tín dụng Theo giáo trình “Ngân hàng thương mại” của Phan Thị Thu Hà (2007), tín dụng được phân loại như sau: * Phân theo các hình thức cấp tín dụng - Chiết khấu thương phiếu Thương phiếu ngày nay được sử dụng khá nhiều trong các hoạt động kinh tế. Thương phiếu được hình thành từ quá trình mua bán chịu hàng hóa và dịch vụ giữa các khách hàng với nhau.
Người bán có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn. Sau đây là sơ đồ luân chuyển thương phiếu. (1) Người bán Người mua (2) (3) (4) (5) Ngân hàng Hình 1. Sơ đồ luân chuyển thương phiếu (1) Người bán chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ cho người mua.
(2) Thương phiếu được lập, người mua ký, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng khi thương phiếu hết hạn, và giao thương phiếu cho người bán đồng thời là người thụ hưởng. (3) Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang thương phiếu đến ngân hàng để xin chiết khấu. (4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, ngân hàng có thể phát tiền cho người bán và nắm giữ thương phiếu. (5) Đến hạn ngân hàng chuyển thương phiếu đến người mua đòi tiền.
Bên cạnh áp dụng lãi suất chiết khấu, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí chiết khấu đối với những trường hợp cụ thể có liên quan tới rủi ro và chi phí đòi tiền. Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách, ngân hàng thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu. Khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu.
Ngân hàng sẽ kiểm tra chất lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu. 7 - Cho vay Cho vay là hoạt động mang lại cho ngân hàng khoản thu lớn nhất trong các khoản mục tài sản. Nó đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của ngân hàng. Các hình thức chủ yếu của cho vay đó là: + Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định.
Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để chi trả các khoản phải trả, phải nộp khác. + Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến hiện nay của các ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không đủ điều kiện để ngân hàng cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất mới vay ngân hàng.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giản ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Số lượng cho vay = Nhu cầu vốn cho SXKD – Vốn CSH tham gia – Các nguồn vốn. Số lượng cho vay ≤ Giá trị TSĐB × Tỷ lệ cho vay trên giá trị TSĐB Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi.
Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng. Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản.
Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị của TSĐB. + Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình SXKD. Trong nghiệp vụ này 8 ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút. + Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Đầu năm hoăc quý, người vay phải làm đơn xin ngân hàng được vay luân chuyển. Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng và doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa, để dự toán dòng ngân quỹ trong thời gian tới. + Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho TSCĐ hoặc hàng lâu bền.
Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ. Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng. + Cho vay gián tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán. Trong trường hợp như vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay. Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết.
Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình, để 9 tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc giá đắt cho người vay vốn. - Cho thuê tài sản Thông thường thì ngân hàng cho khách hàng vay tiền để mua tài sản phục vụ cho hoạt động SXKD, nhưng đối với một số khách hàng trong một số trường hợp chưa đủ điều kiện để được cho vay. Để mở rộng tín dụng, ngân hàng đã tiến hành một loại nghiệp vụ tín dụng khác đó là cho thuê.
Bằng cách mua các tài sản có giá trị, rồi cho khách hàng thuê lại tài sản đó. Tài sản cho thuê là thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng có quyền thu hồi khi khách hàng không trả được nợ. Điều này làm giảm bớt rủi ro cho ngân hàng. Cho thuê có hai hình thức chủ yếu là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính.
Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng cho thuê trong thời gian ngắn, đi thuê không có dự định mua lại tài sản đó để sử dụng lâu dài, ví dụ cho thuê phòng khách sạn, xe ô tô ngắn ngày… Cho thuê tài chính thì đáp ứng thời gian dài, khách hàng có thể mua lại tài sản sau khi đã hết hợp đồng thuê. Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho thuê tài chính.