CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TÍN DỤNG VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu ngành vận tải bộ đường bộ 1.1 Tổng quan về ngành vận tải đường bộ tại Việt Nam Kinh doanh vận tải đường bộ là ngành kinh doanh có điều kiện. Theo Nghị định 86/2014/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ ngày 10 tháng 09 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2014 quy định “ về kinh doanh vận tải đường bộ”. Đây là ngành kinh doanh có điều kiện. Tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì kinh doanh vận tải bộ là hình thức kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.
Qua đó, kinh doanh vận tải bằng xe ô tô được hiểu “ là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp”. * Kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp là hoạt độnh kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ vận tải và thu cước phí vận tải trực tiếp từ khách hàng. * Kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp là hoạt độnh kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện công đoạn vận tải, vừa thực hiện ít nhất một công đoạn khác trong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ và thu cước phí vận tải thông qua doanh thu từ sản phẩm dịch vụ đó. Đây là hình thức kinh doanh vận tải hàng hóa thông thường.
Ngoài ra, tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 9 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP của Thủ tướng chính quy định: Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải là việc sử dụng xe ô tô con có trọng tải từ 1.500 kg trở xuống để vận chuyển hàng hóa và người thuê vận tải trả tiền cho lái xe theo hợp đồng tính tiền gắn trên xe. Mặt ngoài hai bên thành xe hoặc cánh cửa xe để chữ “TAXI TẢI”, số điện thoại liên lạc, tên kinh doanh; Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng Kinh doanh vận tải hàng nguy hiểm Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng Công-ten-nơ là việc sử dụng xe đầu kéo, kéo rơ móoc, sơ mi rơ móoc để vận chuyển công-ten-nơ chở hàng hóa. 2 Dịch vụ vận chuyển hàng hóa là một những mắc xích quan trọng nằm trong chuổi cung ứng của dịch vụ Logisties đã và đang trở thành một trong những ngành đóng vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế xã hội. Xã hội ngày càng hiện đại, lưu lượng hàng hóa cần vận chuyển càng gia tăng đáng kể, đặc biệt chở các mặt hàng sản xuất công nghiệp Tại Việt Nam, dịch vụ vận tải hàng hóa đang ngày càng phát triển mạnh, có tầm quan trọng ngày càng to lớn trong nền kinh tế nước ta.
Đặc biệt là vận tải đường bộ, một phương tiện vận chuyển phổ biến nhất hiện nay của nước ta. Hiện nay, vận tải đường bộ chiếm khoảng 75% lượng hàng hóa vận tải nội địa. chi phí vận tải đường bộ của Việt Nam còn ở mức cao so với một số quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân của tình trạng này là do đa số các đơn vị kinh doanh vận tải hàng hóa quy mô vận tải nhỏ lẻ, sức cạnh tranh yếu, chưa tối ưu hóa hoạt động kinh doanh cùa đơn vị vận tải dẫn đến tỷ lệ xe có hàng 2 chiều thấp, tỷ lệ xe chạy rỗng ở mức cao từ 30-50% số chuyến xe, dẫn đến chi phí vận tải tăng cao.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò vận tải đường bộ a.
Khái niệm vận tải đường bộ Theo bản tin doanh nghiệp số ra tháng 10/2018 tác giả nêu khái niệm vận tải đường bộ. Theo đó: “Vận tải đường bộ được hiểu là phương thức vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng các phương tiện di chuyển trên bộ, bao gồm các phương tiện như: xe khách, xe bồn, xe fooc, xe container, xe tải, rơ mooc, sơ mo rơ mooc kéo theo ô tô,…”. Đặc điểm ngành vận tải đường bộ Ngành vận tải đường bộ Việt Nam là hình thức vận chuyển phổ biến nhất, có những đóng góp to lớn trong việc vận chuyển hành khách, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, tạo điều kiện cho giao thương phát triển. Với ưu điểm như sau: Tiện lợi, dễ thích nghi với mọi loại địa hình Hiệu quả kinh tế cao trên các cự li đường ngắn và trung bình Có thể hoạt động được trong các điều kiện thời tiết khác nhau Luôn chủ động trong thời gian Vận chuyển hàng hóa đa dạng với khối lượng nhỏ hoặc không quá lớn Khá linh động trong quá trình vận chuyển Đáp ứng tốt yêu cầu hàng hóa thị trường 3 c.
Vai trò vận tải đường bộ trong nền kinh tế Việt Nam Trong những năm qua, ngành vận tải đường bộ đã khẳng định được vai trò chủ chốt của mình với nền kinh tế bằng việc đóng góp không nhỏ vảo nguồn ngân sách nhà nước của quốc gia. Đồng thời, sự phát triển của ngành vận tải đường bộ đã tạo công ăn việc làm ổn định, nguồn thu nhập cao cho hàng triệu người lao động, kể cả lao động phổ thông trình độ học vấn thấp trên mọi miền đất nước,… Từ đó, góp phần giải quyết vấn đề việc làm trong xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế được các tệ nạn xã hội. Vận tải đường bộ đóng một vai trò trọng yếu của quá trình phân phối và lưu thông, góp phần giúp các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán,… diễn ra nhanh chóng, liên tục.3 Định nghĩa nợ xấu đối với tín dụng vận tải bộ Cũng như các khoản nợ xấu khác, nợ xấu trong tín dụng vận tải bộ cũng được các NH đánh giá, phân loại nợ như các khoản cấp tín dụng của những nhóm ngành kinh tế khác. Dựa theo theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc (Nhóm chuyên gia tư vấn - AEG), theo đó: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển, chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay mà không quan tâm tới thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát NH không đưa ra thời gian quá hạn chi trả khi một khoản nợ bị coi là xấu, mà cho rằng nợ xấu là khoản nợ đã quá hạn và NH thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi NH chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi.
Khái niệm nợ xấu của NH Trung ương Châu Âu căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của Ủy ban Basel về giám sát NH, cho rằng một khoản nợ được coi là xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày trở lên, hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. 4 Tại Việt Nam, nợ xấu không được định nghĩa trực tiếp mà được xác định thông qua quy định về phân loại nợ. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5, bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Theo quy định của NHNN, có 2 cách để phân loại nợ là phương pháp định lượng và phương pháp định tính, trong đó phương pháp định lượng xác định theo số ngày quá hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay, phương pháp định tính xác định theo các đánh giá của NH về khả năng hoàn trả nợ mà không cần dựa vào số ngày quá hạn trả nợ.
Nợ xấu quy định tại Nghị quyết 42 bao gồm: Khoản nợ đang hạch toán trong, ngoài bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng, CN NH nước ngoài và được xác định theo quy định tại các điều 2, 3, 4 và 5 của Phụ Lục (được ban hành kèm theo Nghị quyết 42); khoản nợ xấu mà tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu đã mua của tổ chức tín dụng. Qua nhiều định nghĩa về nợ xấu trên ta có cái nhìn khái quát nợ xấu đối với tín dụng vận tải bộ là các khoản nợ NH cho vay mua xe ô tô kinh doanh vận tải mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho NH.