Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này nêu lí do chọn đề tài và khái quát một số tiêu chí nghiên cứu chính về đối tượng, phạm vi, mục tiêu, ý nghĩa nghiên cứu và nêu lên các câu hỏi cần tìm hiểu trong xuyên suốt luận văn. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tập trung vào ba nội dung chính. Nội dung thứ nhất trình bày lý thuyết về rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nội dung thứ hai đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng.
Cuối cùng là viện dẫn một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trước đây cùng những kinh nghiệm từ các nghiên cứu này, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là “Credium” (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định ché tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng Ngân hàng: là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Theo Luật Các tổ chức tín dụng thì tín dụng là việc các tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng về sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.2 Phân loại tín dụng Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy vào góc độ xem xét, tuy vậy cách phân loại dựa theo thời gian, mục đích, tính chất và nguồn gốc cung 5 cấp tín dụng là những căn cứ phân loại tín dụng phổ biến nhất đặc biệt là trong tín dụng nông thôn. Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Căn cứ vào thời hạn tín dụng thì có 3 loại tín dụng như sau: + Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng có thời gian sử dụng dưới 1 năm + Tín dụng trung hạn: Là tín dụng có thời gian sử dụng từ 1 đến 5 năm + Tín dụng dài hạn: Là tín dụng có thời gian sử dụng trên 5 năm Căn cứ vào biểu hiện vốn vay: Căn cứ vào biểu hiện vốn vay thì có 2 loại tín dụng như sau: + Tín dụng bằng tiền + Tín dụng bằng hiện vật Căn cứ vào tính pháp lý: Căn cứ vào tính pháp lý thì tín dụng được phân chia làm 3 loại như sau: + Tín dụng chính thức: Là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước. Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nước. Các nghiệp vụ hoạt động phải tuân theo Luật Ngân hàng như quy định về khung lãi suất, huy động vốn, cho vay,.
và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được. Các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phục vụ người nghèo, Quỹ tín dụng nhân dân, các chương trình trợ giúp của Chính phủ. + Tín dụng bán chính thức: mô hình tiết kiệm vốn thông qua các tổ chức đoàn thể như hội nông dân, hội phụ nữ, hội thanh niên, hội cựu chiến binh. được hình thành nhiều nơi, mỗi người có vốn góp vào theo hình thức tự tiết kiệm có người bảo quản và gửi tiết kiệm vào tổ chức tín dụng chính thức để sinh lãi hoặc dưới hình thức hùn vốn để hỗ trợ các thành viên khác của hội.
Hình thức này giúp các thành viên trong hội ngoài việc thuận lợi cho việc quản lý còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy ý thức đạo đức của cộng đồng tương trợ 6 vốn lẫn nhau. + Tín dụng phi chính thức: Là các hình thức túi dụng nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Các hình thức này tồn tại khắp nơi và gồm nhiều nguồn cung vốn như cho vay chuyên nghiệp, thương lái cho vay, người thân bạn bè, họ hàng hay cửa hàng vật tư nông nghiệp, hụi,. Lãi suất cho vay và những quy định trên thị trường này do người cho vay và người đi vay quyết định.
Trong đó, cho vay chuyên nghiệp là hình thức cho vay nặng lãi bị Nhà nước nghiêm câm. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm: Căn cứ vào mức độ tín nhiệm thì tín dụng được phân chia làm 2 loại như sau: + Cho vay có bảo đảm: là loại vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cam cố tài sản vay hoặc của bên thứ ba. + Cho vay không có đảm bảo: Là loại vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm cố mà chỉ dựa vào uy tín của người đi vay vốn. Căn cứ mục đích sử dụng vốn: + Tín dụng cho sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng cung cấp cho doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình để sản xuất, kinh doanh đối với loại cho vay này mục đích sử dụng vốn là tạo ra lợi nhuận cho người đi vay.
+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cung cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, phục vụ đời sống, sinh hoạt hàng ngày như chi cho y tế, học hành, mua đồ dùng cho gia đình, chi tiêu khác.3 Rủi ro tín dụng Phan Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Thu Thảo (2002) định nghĩa rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro lớn. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất 7 và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo Koch (1988), một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn, có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thoả thuận.
Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị gia của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Theo dự thảo Thông tư “Quy định về hệ thống quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng” ngày 18/03/2017 của Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra thì rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, một cách khái quát nhất thì rủi ro tín dụng của ngân hàng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại” Trong các nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro tín dụng, có hai khía cạnh về vấn đề này thường được các nhà nghiên cứu quan tâm là rủi ro không trả được số nợ vay (Maharjan và ctg, 1983) và rủi ro không trả nợ đúng hạn (Antwi và ctg, 2012).
Điều này có nghĩa là rủi ro được xem xét trên hai khía cạnh là quy mô trả nợ và thời gian đáo hạn của khoản nợ. - Lý thuyết thông tin bất cân xứng và các nghiên cứu có liên quan Lý thuyết thông tin bất cân xứng được Akerlof (1970) đưa ra nhằm lý giải mối quan hệ giữa chất lượng hàng hóa và sự bất cân xứng thông tin trong các thị trường. Theo Jaffee và Russell (1976), trong thị trường cho vay luôn có sự 8 hiện diện của hai loại người vay, là người vay trung thực và người vay không trung thực, do đó ngân hàng rất khó phân biệt được bởi sự tồn tại của thông tin bất cân xứng. Do đó, hạn chế tín dụng xuất hiện như là cách thức thị trường cho vay phản ứng lại đối với sự lựa chọn bất lợi.
Gestel và Baesens (2009) cho rằng, quản trị RRTD tốt thường được bắt đầu bằng sự lựa chọn tốt về người vay. Còn theo Stiglitz và Weiss (1981), việc thực hiện các khoản vay của ngân hàng thường phụ thuộc vào lãi suất kỳ vọng và mức độ rủi ro dự kiến của khoản vay nên khoản cho vay dựa trên nguyên tắc “đánh đổi rủi ro và lợi nhuận” và việc khó nhận diện được đâu là “người vay tốt” dẫn đến ngân hàng áp dụng lãi suất đối với khoản vay. Hệ quả của tình trạng thông tin bất cân xứng trong thị trường cho vay gây ra hạn chế tín dụng và làm mất cân bằng tín dụng trong ngắn hạn.2 Khả năng trả nợ vay của khách hàng Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, quy định về phân loại khoản nợ theo hai phương pháp định lượng và định tính. Với phương pháp định lượng, một khoản cho vay được gọi là nợ đủ tiêu chuẩn khi khoản nợ đó có khả năng thu hồi đúng hạn.