CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm về tạo động lực lao động 1. Khái niệm về nhu cầu “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con người có thể cảm thấy được. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động, nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.” (Bùi Thị Xuân Mai, 2011) “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó.
“Nhu cầu là trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tích cực của cá nhân.” (Vũ Dũng, 2008) Như vậy, tác giả tổng hợp các khái niệm trên và tiếp cận nhu cầu với định nghĩa cơ bản là một trạng thái cần được thỏa mãn khi con người tiếp xúc với những điều kiện, tình huống cụ thể, luôn biến đổi trong đời sống. Khái niệm về động lực lao động “Động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động để tăng cường các hoạt động lao động hướng tới việc đạt được mục tiêu của mình thông qua việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.” (Nguyễn Thị Hồng, 2020, 13) 8 “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2004, 128) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục đích của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.” (Bùi Anh Tuấn, 2003, 57) Tại bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm của Nguyễn Thị Hồng. Hiểu đơn giản như sau động lực lao động là một yếu tố giúp người lao động có hứng thú làm việc, nó hướng đến một mục tiêu cụ thể, một kết quả tích cực.
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp. “Văn hóa doanh nghiệp là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó. Từ sự đồng tình với các khái niệm về văn hóa doanh nghiệp trên.
Tác giả tổng hợp để đưa ra và sử dụng khái niệm cơ bản về văn hóa doanh nghiệp như sau: là toàn bộ giá trị văn hóa mà doanh nghiệp hướng đến, tạo dựng 9 trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong thực hiện mục tiêu chung, trong cách thực hiện công việc của thành viên. Khái niệm về tạo động lực lao động “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc.” (Nguyễn Thị Hồng, 2020, 19) “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối với người lao động như thế nào.” (Lê Thanh Hà, 2009, 145) “Tạo động lực lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật… nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả hơn trong công việc.
Đây chính là tất cả các hoạt động, các biện pháp của tổ chức, doanh nghiệp thực hiện đối với người lao động của mình nhằm làm cho họ có động lực trong công việc.” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2004) Từ sự đồng tình với các khái niệm về tạo động lực lao động trên. Tác giả tổng hợp để đưa ra và sử dụng khái niệm cơ bản như sau: tạo động lực là hệ thống các phương pháp doanh nghiệp sử dụng để tác động tích cực đến động lực làm việc của người lao động, từ đó giúp người lao động thực hiện và hoàn thành công việc một các hiệu quả. Một số học thuyết về tạo động lực 1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Năm 1943, Abraham Maslow đã đưa ra quan điểm nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất.
Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người. Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc, từ nhu cầu ở mức độ cơ bản nhất đến nhu cầu ở mức độ cao hơn thông qua hình kim tự tháp.
Tháp nhu cầu của Abraham Maslow “Nguồn: Maslow, A. 1943” - Nhu cầu sinh lý (vật chất): Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm… Khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa. 11 - Nhu cầu về an toàn: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, … Nhu cầu an toàn không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được. - Nhu cầu về xã hội: Nội dung của nhu cầu bao gồm các vấn đề tâm lý như được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này.
Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại. - Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại là lòng tự trọng và được người khác tôn trọng. + Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn có được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu về xã hội Nhu cầu về an toàn Nhu cầu sinh lý + Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ.
Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người. - Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt được các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo. Vận dụng học thuyết: Theo quan điểm của Maslow, để vận dụng học thuyết vào công tác tạo động lực lao động cần thực hiện: 12 - Khảo sát, xác định nhu cầu hiện tại của người lao động trong doanh nghiệp.
- Đánh giá, xác định nhu cầu cấp bách hiện tại của người lao động. - Nhận định lợi thế của doanh nghiệp để kích thích những nhu cầu mới nhằm hướng hành vi của người lao động trở nên tích cực phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. - Làm cơ sở lựa chọn những giải pháp tạo động lực hiệu quả. Học thuyết hai nhân tố của Herzberg Theo Frederic Herzberg (1959) đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực.
Ông chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong công việc thành hai nhóm: Nhóm nhân tố thúc đẩy: là các nhân tố thuộc bên trong công việc, tạo nên sự thỏa mãn, bao gồm: những thành tích cá nhân, địa vị, sự thừa nhận, bản thân công việc, trách nhiệm, sự thăng tiến. Đây chính là nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc. Đặc điểm của nhóm này là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bất mãn, nếu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực. Nhóm nhân tố duy trì: là các nhân tố thuộc về môi trường làm việc của người lao động, bao gồm: lương thưởng, các chính sách và quy định quản lý của DN, những mối quan hệ cá nhân với cá nhân, chất lượng của việc giám sát, công việc ổn định, điều kiện làm việc, sự cân bằng cuộc sống và công việc.
Các nhân tố này khi được tổ chức tốt sẽ có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn đối với công việc của người lao động. Vận dụng học thuyết: Từ những khái niệm trên, Nhà quản trị có thể vận dụng lý thuyết này để tạo động lực cho nhân viên trong thực tế bằng cách kết hợp thực hiện đúng cả hai nhóm nhân tố trên. Nhà quản trị có thế thực hiện: 13 - Khảo sát hiện trạng các yếu tố tạo động lực thông qua nhóm nhân tố duy trì và nhân tố thúc đẩy. - Tổng hợp và phân tích kết quả khảo sát để xác định được nhân tố nào đang mang tính cấp bách.