CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU 1. Một số vấn đề chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp ➢ Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị: * Khái niệm: Kế toán là một công cụ quản lý kinh tế tài chính nói chung và đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp. Việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về thu nhập, chi phí của doanh nghiệp là một yêu cầu của KTTC nhưng do yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao, mối quan hệ trong kinh doanh ngày càng phức tạp, doanh nghiệp sản xuất ngày càng đa dạng nên KTTC không thể cung cấp thông tin chi tiết về từng sản phẩm, dịch vụ nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu quản lý của từng cấp trong doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống KTQT để xây dựng các dự toán, sau đó theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện nhằm có biện pháp quản lý tốt hơn.
Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý, khoa học kế toán cũng phát triển theo vì kế toán là công cụ của quản lý. KTQT phát triển muộn hơn KTTC và được bắt nguồn từ kế toán chi phí nhằm nghiên cứu quá trình tính toán, xác định chi phí và kết quả để có các quyết định kinh doanh phù hợp.Có thể nói sự ra đời và phát triển của KTQT đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong việc nghiên cứu sử dụng hệ thống thông tin kế toán cho công tác quản lý kinh doanh. Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị: Theo Ray H. Garrison (1980): “Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý và những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó.
Hilton (1982): “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “KTQT là lĩnh vực kế toán liên quan đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành. Theo ViệnKế toán quản trị Hoa Kỳ (IMA, 1982): “KTQT là quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”. Theo Luật Kế toán Việt Nam (2003): “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu KTQT là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động SXKD cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Như vậy, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường, KTQT đã ra đời và trở thành công cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác quản lý ra quyết định SXKD và là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp. * Bản chất của KTQT; Về bản chất, KTQT chi phí nguyên vật iệu là một bộ phận của kế toán quản trị. KTQT chi phí NVL cung cấp những thông tin về chi phí NVL trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp.
Mục đích của KTQT chi phí NVL là cung cấp thông tin về các loại chi phí NVL cho nhu cầu quản trị 12 doanh nghiệp. KTQT chi phí NVL phục vụ chủ yếu cho việc quản trị chi phí các NVL trong sản xuất, ra các quyết định quản trị. - KTQT không chỉ thu thập, xử lý, cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã hoàn thành, đã ghi chép và hệ thống hóa trên các sổ sách kế toán mà còn xử lý, cung cấp các thông tin cho việc ra quyết định quản lý. Để có các thông tin này, KTQT phải có những phương pháp riêng và biểu diễn thông tin một cách dễ hiểu, phù hợp với yêu cầu của người quản lý.
- KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi quản lý nội bộ của DN. Những thông tin này chỉ có ý nghĩa với những người, những bộ phận, những nhà quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, KTQT là loại kế toán dành cho người làm công tác quản lý còn KTTC không phục vụ trực tiếp mục đích này. - KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng trong quản lý nội bộ doanh nghiệp.
➢Vai trò của KTQT với chức năng quản lý DN KTQT là công cụ quản lý giúp nhà quản trị thực hiện chức năng. Theo từng chức năng quản lý, KTQT có vai trò như sau: - Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch, dự toán để có cơ sở đưa ra các mục tiêu, các kế hoạch ngắn và dài hạn; - Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện để có cơ sở kết hợp tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp; - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá để có cơ sở phát hiện những lệch lạc, những tồn tại hoặc bất hợp lý nhằm có cơ sở điều chỉnh mục tiêu và kế hoạch ban đầu; - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định. Để ra quyết định, người quản lý phải có sự lựa chọn hợp lý giữa các phương án, các tình huống.Đây là chức năng cao nhất của quản lý, chức năng xuyên suốt mọi chức năng. Để có thông tin thích hợp cho việc ra quyết định, KTQT phải phân tích và tổng hợp 13 các thông tin một cách dễ hiểu để cung cấp cho người quản lý; - Góp phần cải tiến công tác quản lý doanh nghiệp, đặc biệt hoàn thiện công tác quản lý tài chính và công tác kế toán.
Một số vấn đề chung về chi phí nguyên vật liệu trong doanh nghiệp ➢ Khái niệm và đặc điểm của chi phí NVL * Khái niệm NVL, chi phí NVL: - NVL là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến cần thiết trong quá trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và được thể hiện dưới dạng vật hóa như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanh nghiệp dệt… - Chi phí nguyên vật liệu bao gồm tất cả các chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu, các phụ tùng thay thế,… được sử dụng vào mục đích sản xuất, chế tạo ra sản phẩm. Các loại NVL này có thể xuất từ kho ra để sử dụng và cũng có thể mua về đưa vào sử dụng ngay hoặc do tự sản xuất ra và đưa vào sử dụng ngay. * Đặc điểm - Chi phí nguyên liệu, vật liệu chính sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nhưng không thể xác định trực tiếp mức tiêu hao thực tế cho từng loại mà phải tiến hành phân bổ theo mức tiêu hao, hệ số phân bổ được quy định, tỷ lệ với trọng lượng sản phẩm được sản xuất. - Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu xuất sử dụng cũng có thể liên quan đến liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí và không thể xác định trực tiếp mức sử dụng cho từng đối tượng.
Do đó, để phân bổ chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là chi phí định mức, chi phí NVL chính, khối lượng sản phẩm sản xuất ra… ➢ Vai trò của NVL và yêu cầu quản lý NVL - Trong các doanh nghiệp sản xuất, NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nên việc quản lý chu trình thu 14 mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm sản xuất… - Các DN phải thường xuyên theo dõi tình hình biến động của NVL để từ đó có kế hoạch bổ sung, dự trữ kịp thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm cũng như các nhu cầu khác của doanh nghiệp. Nguồn NVL dự trữ cho sản xuất đòi hỏi phải đảm bảo về số lượng, đúng về chất lượng, quy cách, chủng loại, đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất liên tục. - Tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện cân, đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cho sản xuất. - Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê định kỳ nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực.
➢ Phân loại chi phí NVL Trong các DN, NVL bao gồm rất nhiều loại khác nhau với nội dung kinh tế, công dụng trong quá trình sản xuất và tính năng lý hóa khác nhau, vì vậy, cần phải phân loại NVL theo những tiêu thức phù hợp với đặc điểm SXKD và đáp ứng yêu cầu quản lý của DN. Có nhiều tiêu thức phân loại NVL nhưng thông thường, các DN sử dụng những tiêu thức sau để phân loại NVL: * Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý trong DN, chi phí NVL được chia thành các loại sau: - Chi phí NVL chính: Là giá mua và chi phí mua của những NVL cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm, chi phí NVL chính phát sinh trong sản xuất hình thành nên chi phí NVL trực tiếp. Chi phí NVL chính cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hàng hóa. - Chi phí NVL phụ: Là giá mua và chi phí mua của những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể vật chất sản phẩm mà có thể kết hợp với NVL chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình 15 dáng bên ngoài, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị của sản phẩm.