CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC Trong thực thi chiến lược, cấu trúc hay cơ cấu tổ chức có vai trò hết sức quan trọng. Nhờ có cơ cấu tổ chức mà nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức được phân công và kết nối, sự phối hợp trong tổ chức mới có thể thực hiện. Bởi vậy, cơ cấu tổ chức phải phù hợp với chiến lược của công ty, khi đó, nó sẽ thúc đẩy việc thực thi chiến lược một cách hữu hiệu. Ngược lại, chiến lược sẽ không được thực một cách hữu hiệu, mục tiêu sẽ khó đạt được khi công ty có một cấu trúc không tương thích với chiến lược của nó.
Trong trường hợp đó, cấu trúc của tổ chức cần phải được thiết kế lại, tức là phải được hoàn thiện. Trong phần lý luận cơ bản dưới đây, chúng ta xem xét khái niệm về cơ cấu tổ chức, vai trò và các thuộc tính cơ bản của nó, xem xét cách phân công và phối hợp cũng như các hệ thống thông tin trong cơ cấu tổ chức. Cuối cùng, chúng ta sẽ xem xét khái niệm, cơ sở và các bước thực hiện để hoàn thiện cơ cấu tổ chức. CƠ CẤU TỔ CHỨC 1.
Khái niệm, vai trò và những thuộc tính cơ bản của cơ cấu tổ chức a. Khái niệm cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức là một trong những nội dung trọng tâm của nhiều công trình nghiên cứu. Tuy phương pháp tiếp cận của các tác giả không đồng nhất nhưng đều đưa đến cách hiểu khá thống nhất về khái niệm cơ cấu tổ chức. Theo đó, “cơ cấu tổ chức” là cơ cấu hay cấu trúc của một tổ chức.
Chúng ta cần làm rõ khái niệm “tổ chức” trước khi xem xét khái niệm cơ cấu tổ chức. Lê-Nin đã nói: “Hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng tôi sẽ Luan van 8 làm đảo lộn nước Nga”. Tổ chức được xem xét ở đây là một danh từ. Theo Edgar Schein, tổ chức là một sự phối hợp có ý thức những hoạt động của một số người nhằm hoàn thành những mục tiêu chung và cụ thể thông qua sự phân chia công việc, nhiệm vụ và một hệ thống quyền hành.
Robbins và Mary Counter thì định nghĩa tổ chức là “sự sắp xếp có chủ đích những con người để thực hiện một số mục đích cụ thể”[10, tr 6]. Dù diễn đạt như thế nào thì các tác giả cũng cho thấy tổ chức có 3 đặc tính cơ bản: (1) có một mục đích riêng, mục đích này được thể hiện một cách cụ thể dưới dạng một mục tiêu hay nhóm các mục tiêu mà tổ chức đó mong muốn đạt được; (2) là một tập hợp gồm nhiều người, thực hiện những công việc cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu chung, và (3) có cấu trúc rõ ràng, dù đó là cấu trúc đơn giản hay phức tạp, để các thành viên có thể thực hiện phần việc của mình.1 ở Phụ lục 01 minh họa các đặc tính của một tổ chức. Các trường học, bệnh viện, công sở, các công ty,. là những tổ chức.
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, trong luận văn này thuật ngữ “tổ chức” dùng để chỉ các công ty và các doanh nghiệp, gọi chung là “công ty”. Như vậy, cấu trúc hay cơ cấu là một trong những đặc tính để một thực thể là một tổ chức. Tiếp theo chúng ta sẽ làm rõ khái niệm cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức đã được nhiều tác giả xem xét với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Drucker, cơ cấu tổ chức là cách sắp xếp các quá trình và các chức năng trong một tổ chức, cũng như các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Hellriegel và Slocum thì cho rằng cơ cấu tổ chức là một hệ thống chính thức của các mối quan hệ công việc, nó vừa phân chia, vừa phối hợp các công việc với nhau. Chandler cho rằng cấu trúc là “bản thiết kế của tổ chức thông qua đó để quản lý doanh nghiệp”.Robbins, Mary Counter và Timothy A. Judge thì đưa ra khái niệm cơ cấu tổ là sự sắp xếp chính thức các công việc trong phạm vi một tổ chức[9, tr.
483-537; 10, Luan van 9 tr 265-273]. Theo PGS-TS Lê Thế Giới, TS Nguyễn Thanh Liêm và ThS Trần Hữu Hải thì cơ cấu tổ chức là sự phân chia quyền hành và phân chia các mối quan hệ công việc trong tổ chức, tức là xác định các quan hệ báo cáo, các thủ tục, những hướng dẫn, hệ thống quyền lực và các quá trình ra quyết định trong tổ chức đó. Dù cách trình bày có khác nhau nhưng các khái niệm mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra đều đề cập đến vai trò và những thuộc tính cơ bản của cơ cấu tổ chức. Chúng ta sẽ làm rõ những nội dung này trong các phần tiếp theo.
Vai trò của cơ cấu tổ chức Cơ cấu của một tổ chức, dù đó là tổ chức lớn hay nhỏ, cơ cấu đơn giản hay phức tạp, đều có hai vai trò chủ yếu[6, tr 507]: Thứ nhất, là phương tiện để phân công nhiệm vụ cho các thành viên của tổ chức và kết nối hoạt động của họ vào các bộ phận khác nhau trong tổ chức. Trong tiến trình hướng tới mục tiêu chung, mỗi con người trong tổ chức phải thực hiện một nhiệm cụ thể tại một vị trí nhất định trong mối liên hệ với các cá nhân và bộ phận khác. Điều đó chỉ có thể được xác lập thông qua cơ cấu tổ chức. Thứ hai, là phương tiện để các nhà quản trị phối hợp các hoạt động trong tổ chức nhằm khai thác tốt nhất các kỹ năng và năng lực của các chức năng và bộ phận.
Không có sự phối hợp, các chức năng và bộ phận sẽ hướng hoạt động vào mục tiêu của mình mà ít quan tâm đến mục tiêu chung, làm giảm khả năng tạo giá trị từ các hoạt động phối hợp trong tổ chức. Vì vậy, phối hợp là yêu cầu hết sức quan trọng của tổ chức và cơ cấu tổ chức là phương tiện để thực hiện việc phối hợp đó. Với các vai trò đó, cơ cấu tổ chức phải vừa có sự phân công cao, vừa tạo ra sự kết hợp tốt nhất giữa các cá nhân và bộ phận trong tổ chức. Đó chính là các khối cơ bản của cơ cấu tổ chức được trình bày trong phần 1.
Các khối cơ bản của cơ cấu tổ chức Một số nhà nghiên cứu cho rằng cơ cấu tổ chức gồm bốn yếu tố cơ bản là chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa, phối hợp và quyền hành. Robbins và Mary Coulter thì cho rằng việc thiết kế cơ cấu tổ chức là một quá trình bao hàm các quyết định về sáu nhân tố cơ bản là chuyên môn hóa, phân khâu, chuỗi mệnh lệnh, tầm hạn kiểm soát, tập trung và phân quyền và chính thức hóa[10, tr 265]. Tuy tiêu thức của các tác giả không hoàn toàn giống nhau, nhưng các nhân tố được phân chia đều nằm trong hai khối cơ bản của cơ cấu tổ chức như cách trình bày của Phó giáo sư Tiến sỹ Lê Thế Giới, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Liêm và Thạc sỹ Nguyễn Hữu Hải, là sự phân công và kết hợp[6, tr 508]. Phân công là khuôn khổ hay cách thức mà thông qua đó tổ chức phân bổ con người và các tài nguyên cho các nhiệm vụ để tiến hành quá trình tạo giá trị.
Tổ chức càng có nhiều chức năng và/hoặc có nhiều bộ phận, khả năng chuyên môn hóa cao và có nhiều các kỹ năng riêng biệt thì mức độ phân công càng cao. Phân công trong cơ cấu tổ chức bao gồm hai dạng, (1) phân công theo chiều dọc là việc phân phối quyền ra quyết định để kiểm soát một cách tốt nhất các hoạt động của tổ chức. Ví dụ, công ty nên có bao nhiêu cấp trực tuyến và tầm hạn kiểm soát của các nhà quản trị nên ở mức độ nào, và (2) phân công theo chiều ngang là cách thức phân chia các chức năng và các bộ phận trong tổ chức để qua đó thực hiện việc phân bổ con người, các tài nguyên và nhiệm vụ. Ví dụ các bộ phận kế hoạch và kinh doanh nên riêng biệt hay nên kết hợp thành một.
Kết hợp là cách thức mà tổ chức phối hợp con người và các chức năng trong quá trình thực thi các nhiệm vụ của nó. Với xu hướng theo đuổi các mục tiêu và mục đích riêng của các chức năng và bộ phận, tổ chức phải có một cơ cấu sao cho có thể phối hợp và hướng hoạt động của các chức năng và Luan van 11 bộ phận cùng theo đuổi mục tiêu chiến lược của tổ chức thông qua những cơ chế kết hợp. Phân công và kết hợp là hai đặc tính quan trọng của cơ cấu tổ chức, chúng liên quan chặt chẽ với nhau, xác định cách thức hoạt động của cơ cấu tổ chức và cách thức để quản trị chiến lược có thể tạo giá trị thông qua các chiến lược đã được lựa chọn.3 sẽ trình bày chi tiết về hai nội dung này. Sự phân công, kết hợp và chi phí quản lý Chi phí vận hành cơ cấu tổ chức là bộ phận chủ yếu trong chi phí quản lý của tổ chức.
Do đó, tổ chức có cơ cấu càng phức tạp thì chi phí quản lý càng cao. Chẳng hạn, một tổ chức càng phân công chuyên môn hóa cao thì càng cần những nhà quản trị có trình độ cao, đồng thời cũng càng cần thêm nhiều phương tiện và đội ngũ nhân viên để bảo đảo cho việc thực thi nhiệm vụ của các nhà quản trị đạt hiệu quả. Khi đó, tổ chức càng phải chi nhiều tiền hơn để trả lương cho các nhà quản trị và đội ngũ nhân viên cũng như mua sắm và bảo đảm hoạt động của các phương tiện và như vậy càng làm cho chi phí quản lý tăng cao. Tương tự như vậy, càng kết hợp chặt chẽ thì càng tiêu tốn nhiều thời gian của các nhà quản trị để phối hợp hoạt động làm cho chi phí quản lý càng tăng.
Trừ phi việc tăng chi phí quản lý đem lại một lợi nhuận gia tăng lớn hơn phần chi phí tăng thêm, tăng chi phí quản lý sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty một cách nhanh chóng thậm chí còn nhanh hơn so với việc xây dựng một chiến lược kém, và do đó chúng tác động trực tiếp đến hiệu năng cơ bản của tổ chức[6, tr 509]. Thiết kế tổ chức kém sẽ làm tăng chi phí quản lý, dẫn tới giảm lợi nhuận. Ngược lại, một tổ chức được thiết kế tốt sẽ đem lại một lợi thế về mặt chi phí để có thể gia tăng lợi nhuận.