Chương 1: Khung nghiên cứu Chính sách xuất nhập cảnh với thu hút khách du lịch quốc tế Chương 2: Thực trạng chính sách xuất cảnh của Việt Nam đối với khách du lịch quốc tế đên Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện chính sách xuất nhập cảnh nhằm tăng cường du lịch quốc tế trong điều kiện hội nhập 9 CHƢƠNG 1: KHUNG NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH XUẤT NHẬP CẢNH VỚI THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ 1. Khách du lịch quốc tế và sự phát triển du lịch: 1. Khái niệm Khách du lịch quốc tế: Năm 1989, tại Hội nghị liên minh Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye (Hà Lan) đã ra “Tuyên bố Lahaye về du lịch”, trong đó đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người: - Trên đường đi thăm một hoặc một số nước, khác với nước mà họ cư trú thường xuyên; - Mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không “ quá thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn; - Không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại; - Sau khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác. Hiện nay trên thế giới, hầu hết các nước sử dụng khái niệm này cho Khách du lịch quốc tế.
Như vậy, có thể hiểu: Khách du lịch quốc tế là khách du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch thuộc phạm vi lãnh thổ của hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau. ” UWTO đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế dựa trên 3 tiêu thức (mục đích, thời gian, không gian): “Khách du lịch quốc tế là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không quá 1 năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến”. Trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm được quy định tại Luật du lịch Việt Nam năm 2017: “Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, 10 người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch”1. Khái niệm trên chỉ ra được đặc tính của khách du lịch quốc tế: là những người không phải định cư tại Việt Nam hoặc không mang quốc tịch Việt Nam nhập cảnh vào Việt Nam với mục đích là du lịch.
Phân loại Khách du lịch quốc tế: Có nhiều góc độ khác nhau để phân loại Khách du lịch quốc tế như: theo giấy tờ dùng nhập cảnh, theo đặc điểm kinh tế xã hội, loại hình cơ sở lưu trú được sử dụng, hình thức tổ chức… Tại luận văn này, tác giả chọn cách phân loại Khách du lịch quốc tế theo giấy tờ dùng nhập cảnh bởi mỗi diện thị thực sẽ có những chính sách xuất nhập cảnh khác nhau. Khách du lịch nhập cảnh theo diện miễn thị thực: Đây là nhóm khách khi nhập cảnh mà không cần phải làm bất kỳ thủ tục nào liên quan đến việc xin cấp thị thực. Nhóm này sẽ được chia thành 2 nhóm nhỏ: - Nhóm miễn thị thực song phương: Là việc miễn thị thực được thực hiện theo ký kết hiệp định về việc bãi miễn thị thực giữa 2 quốc gia với nhau. Hiệp định có quy định rõ thời hạn tạm trú được cấp khi công dân một trong hai quốc gia đến nước kia.
Thường những hiệp định này được ký kết nhằm tăng mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau để tạo điều kiện trao đổi văn hóa, thương mại. Tuy vậy, để đạt được những hiệp định bãi miễn thị thực thì thường phải trải qua thời gian đàm phán, quan hệ giữa các quốc gia đã đạt được những thành công nhất định. - Nhóm miễn thị thực đơn phương: Là quốc tịch được quốc gia sở tại đồng ý cho phép nhập cảnh mà không cần làm thủ tục xin cấp thị thực mặc dù không hề có bất cứ hiệp định nào phải thi hành. Thời hạn ở lại nước sở tại của nhóm này phụ thuộc vào quy định của quốc gia đó.
Khách du lịch nhập cảnh bằng thị thực: Đây là nhóm khách du lịch trước khi nhập cảnh phải làm thủ tục xin cấp thị thực và mất lệ phí. Đa số các quốc gia trên thế giới đều có quy định rằng du khách 1 Khoản 3, Điều 10, Chương II, Luật Du lịch năm 2017 11 nước ngoài nhập cảnh bằng thị thực du lịch không được có hoạt động khác ngoài việc tham quan du lịch. Nhờ có sự kiểm soát từ thủ tục xin cấp thị thực, nhóm khách này có tỷ lệ thấp gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự so với nhóm khách nhập cảnh theo diện miễn thị thực. Tác động của Khách du lịch quốc tế tới phát triển du lịch và kinh tế - xã hội: 1.
Những tác động tích cực: a. Khách du lịch quốc tế với phát triển ngành du lịch: Phát triển ngành du lịch đó là sự gia tăng sản lượng và doanh thu trong đó doanh thu được tạo ra từ khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Tính trên thế giới, tổng lượng chi tiêu khách quốc tế chiếm tới 28% tổng doanh thu của cả ngành du lịch2. Mặc dù chưa chiếm được tỷ trọng thấp hơn so với chi tiêu của khách nội địa trong nước nhưng khách du lịch lại mang đến sự lan truyền lớn cho ngành du lịch của một quốc gia trên toàn thế giới.
Những khách du lịch quốc tế này đã trở thành “ phương tiện” tuyên truyền, quảng bá cho đất nước về thành tựu kinh tế, chính trị, con người, phong tục tập quán, các danh lam thắng cảnh, các di tích văn hoá lịch sử, các làng nghề truyền thống,… đến với các quốc gia bạn bè trên thế giới. Khi khách du lịch quốc tế trở về nước, họ sẽ nhớ tới những nét đẹp văn hoá riêng biệt, những con người dễ mến thân thương, những hình ảnh mang đậm bản sắc riêng về nơi họ du lịch rồi truyền bá đi toàn cầu, từ đó có thể thu hút được khách quốc tế nhiều hơn, đồng thời mở rộng được thị trường du lịch ra toàn thế giới. Và cũng nhờ khách du lịch quốc tế, đất nước sẽ xác lập và khẳng định được vị thế cạnh tranh của mình trên trường quốc tế với tư cách là điểm đến du lịch quốc tế. Ngoài ra, du khách quốc tế chính là động lực cho chất lượng các cơ sở vật chất và dịch vụ của ngành du lịch trong nước phát triển.
Khách nước ngoài luôn có yêu cầu về chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế như phòng nghỉ, phương tiện, chất lượng phục vụ, giải trí… Chính bởi các yêu cầu này, những công ty du lịch, giải trí, 2 Global Economic Impact and Issues 2017 - WTTC 12 khách sạn, nhà hàng trong nước phải nỗ lực nâng cấp chất lượng sản phẩm của mình. Và điều này lại tiếp tục làm nhu cầu du lịch nội địa tăng lên, tác động tích cực tới phát triển ngành du lịch. Tạo ra sức lan tỏa tới các ngành kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều ngành nghề trong “ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là du lịch quốc tế. Sự phát triển du lịch quốc tế sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác nhau như vận tải, thương mại, công ” nghiệp, nông nghiệp… không chỉ về số lượng mà bao gồm cả chất lượng.
Nông nghiệp là một ngành có ảnh hưởng quan trọng đến du lịch. Như ta đã “ biết người nông dân cung cấp cho các khách sạn, nhà hàng lương thực thực phẩm để phục vụ, đấp ứng nhu cầu của khách. Một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh sẽ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách quốc tế cả về số lượng và chất lượng. Nếu phải nhập khẩu các loại nông sản lương thực thực phẩm để phục vụ khách quốc tế thì mọi hoạt động sẽ nhanh chóng gặp phải những trở ngại khó có thể vượt qua.
Khách quốc tế khi du lịch luôn muốn sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao, vì vậy nông sản thực phẩm phục vụ du lịch được nói đến ở đây phải đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Việc hình thành các cơ sở sản xuất chuyên canh với hệ thống tiêu chuẩn chất lượng rất ngặt nghèo là yêu cầu cần thiết. Một thực tế đáng buồn ở Việt Nam là chất lượng sản phẩm trong nước chưa cao, không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng an toàn do đó thực phẩm để cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn cho khách du lịch quốc tế vẫn phải nhập khẩu. Chính vì vậy, du lịch quốc tế chính là một động lực để nước sở tại đẩy mạnh các mô hình trang trại sản xuất các nông sản có chất lượng đáp ứng nhu cầu tại các nhà hàng, khách sạn, từ đó nâng cáo chất lượng của toàn bộ ngành nông nghiệp cả nước.
” Ngành du lịch quốc tế tiêu thụ một khối lượng lớn lương thực và thực phẩm “ cả tươi sống cũng như đã qua chế biến, do đó vai trò của các ngành công nghiệp thực phẩm như công nghiệp chế biến đường, thịt, sữa, đồ hộp, công ngiệp chế biến rượu bia, thuốc lá… luôn được coi trọng. Đây là các cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng. Một số ngành công nghiệp 13 nhẹ cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc cung ứng vật tư cho du lịch quốc tế như: Công nghiệp dệt, công nghiệp thuỷ tinh, công nghiệp sành sứ và đồ gốm… Ngành công nghiệp dệt cung cấp cho ngành du lịch các loại vải để làm ra các vật dụng trang bị cho các phòng khách như các loại khăn trải bàn, ga giường, thảm… và các sản phẩm lưu niệm như quần áo, vải vóc. Ngành công nghiệp chế biến gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú.
Tính cao cấp và tính thiết yếu trong tiêu dùng quốc tế đòi hỏi hàng hoá và dịch vụ du lịch phải có chất lượng cao. Do vậy, muốn phát triển du lịch quốc tế, các ngành sản xuất này không phải chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu về khối lượng hàng hoá mà phải bảo đảm cung cấp vật tư hàng hoá có chất lượng cao, đảm bảo về mặt thẩm mỹ và chủng loại phong phú, đa dạng.