CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về thuế đối với nhà thầu nước ngoài 1. Sự hình thành thuế nhà thầu nước ngoài Sự ra đời và phát triển của thuế là một tất yếu khách quan của lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và Pháp luật. Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình.
Và để duy trì sự tồn tại thì cần thiết phải có những nguồn tài chính để chi tiêu, chính vì vậy, sự hình thành nguồn thu từ thuế là tất yếu và khách quan. Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang chuyển thành một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng lưới công nghệ thông tin. Từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, sự chuyển dịch hàng hóa, dịch vụ và các nguồn vốn đầu tư giữa các nước gia tăng ngày càng nhanh, tạo ra sự biến đổi về chất so với trước đây. Động lực của toàn cầu hóa chính là lợi ích mà các lực lượng tham dự có thể thu được nhờ vào sự mở rộng thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Quá trình toàn cầu hóa còn được diễn ra bằng quá trình mở rộng hoạt động đến các quốc gia thông qua các hoạt động đầu tư vào các ngành đa dạng và phong phú. Quá trình đầu tư của các quốc gia chính là quá trình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh tại các nước khác. Các nước sẽ đem vốn của mình đến đầu tư thông qua các hình thức khác nhau, trong đó có hình thức các tổ chức, cá nhân thể hiện qua tư cách là các nhà thầu để tham gia quá trình này. Từ đó, các quốc gia sẽ phải suy nghĩ đến quá trình quản lý các hoạt động nêu trên, mà trong đó công cụ chủ yếu chính là chính sách thuế.
Và các nước này sẽ phải đưa ra các quy định về thuế đối với các nhà thầu nước ngoài khi đến -2- nước mình thực hiện kinh doanh nhằm đem lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia đó, đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là việc thực hiện nguyên tắc lãnh thổ của thuế: Trong phạm vi chủ quyền của mình, mỗi quốc gia sẽ có quyền đánh thuế đối với các sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế xảy ra trên lãnh thổ đó, ví dụ như sự kiện phát sinh thu nhập, sự kiện tọa lạc tài sản hay chuyển dịch tài sản, việc tiến hành các hoạt động kinh doanh thương mại v. Do vậy, hình thành nên chính sách về thuế đối với nhà thầu nước ngoài. Khái niệm thuế nhà thầu nước ngoài Như tên gọi của nó, thuế nhà thầu nước ngoài là loại thuế đánh vào hoạt động kinh doanh của các nhà thầu nước ngoài.
Nhà thầu nước ngoài ở đây là các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại một nước trên cơ sở hợp đồng hoặc thoả thuận bằng văn bản giữa họ với tổ chức, cá nhân của nước đó mà không hình thành nên một pháp nhân tại nước có thu nhập phát sinh. Như vậy, nhà thầu nước ngoài là một hình thức kinh doanh của các tổ chức, cá nhân nước ngoài khác biệt với các hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Còn đầu tư gián tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Indirect Investment, viết tắt là FII) là hình thức đầu tư vốn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác mà nhà đầu tư không trực tiếp điều hành cơ sở sản xuất kinh doanh, thường là qua thị trường tài chính như thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán. Còn nhà thầu nước ngoài chỉ hoạt động theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại. Sau khi kết thúc hợp đồng, hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt. -3- Trong các quy định về thuế của các nước, thuế NTNN thường được gọi là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contractor Withholding Tax (FCWT).
Nó còn được gọi là thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), do cách thu chủ yếu là được bên ký hợp đồng khấu trừ tiền thuế phải nộp của nhà thầu nước ngoài trước khi trả tiền cho nhà thầu. Từ điển Oxford Dictionaries định nghĩa: “Thuế NTNN là loại thuế được khấu trừ tại nguồn, do các quốc gia đánh trên tiền lãi vay hoặc cổ tức của người cư trú bên ngoài nước đó”. Các nước thường không có một định nghĩa riêng về thuế đối với nhà thầu nước ngoài. Các điều khoản về thuế đối với nhà thầu nước ngoài thường được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuộc phần thuế khấu trừ tại nguồn.
Chẳng hạn, Luật thuế Malaysia định nghĩa thuế NTNN như sau: “Thuế NTNN là một khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội địa Malaysia. Bên trả tiền là cá nhân/tổ chức hoạt động kinh doanh tại Malaysia. Bên trả tiền phải giữ lại thuế NTNN đối với các khoản chi trả cho dịch vụ, tư vấn kỹ thuật, tiền thuê hoặc các khoản chi trả khác thực hiện dưới bất kỳ hình thức thỏa thuận nào đối với việc sử dụng bất kỳ động sản nào trả cho người nhận tiền không cư trú. Người nhận tiền là cá nhân/tổ chức không cư trú tại Malaysia nhận các khoản chi trả trên”.
Theo Luật quản lý thuế của Australia năm 2004 (Taxation Administration Amendment Regulations 2004) thì thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào các khoản chi trả cho các tổ chức nước ngoài thường trú tại nước này được hình thành từ các hợp đồng thầu xây dựng. Như vậy, với tên gọi của mình, có thể thấy thuế nhà thầu nước ngoài thuộc loại thuế thu theo đối tượng, mà ở đây là các nhà thầu nước ngoài. Vai trò của thuế nhà thầu nước ngoài Thuế nhà thầu nước ngoài có các vai trò sau: -4- Huy động nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của các nhà thầu nước ngoài; Khi nhà thầu nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh tại một nước, đồng thời xuất hiện nghĩa vụ nộp thuế của họ. Các nước đều có quy định về việc thu thuế đối với hoạt động kinh doanh của nhà thầu nước ngoài tại nước mình.
Đối với các nước phát triển, số thuế thu từ hoạt động của các nhà thầu nước ngoài không lớn, do các lý do sau: Các nước phát triển đã đạt tới trình độ cao về các lĩnh vực, khả năng của các doanh nghiệp trong nước đáp ứng được các nhu cầu về xây dựng, cung cấp máy móc thiết bị; Trình độ về công nghệ cao, ít phải nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài, do vậy ít xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với tiền bản quyền; Lượng vốn đầu tư trong nước lớn, đáp ứng được nhu cầu đầu tư, do vậy ít xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với lãi vay. Ngược lại với các nước phát triển, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, số thu thuế nhà thầu nước ngoài đóng góp một phần khá quan trọng trong tổng thu của ngân sách nhà nước từ thuế, do các nguyên nhân sau: Các nước đang phát triển cần một nguồn vốn rất lớn trong quá trình đầu tư của mình, do vậy cần vay từ các nguồn bên ngoài, làm xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với lãi vay; Trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, cần nhập khẩu khoa học công nghệ, do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với tiền bản quyền; Khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, do vậy cần các nhà thầu nước ngoài cung cấp nhiều dịch vụ, hàng hóa trong nước chưa sản xuất được, đặc biệt đối với việc xây dựng các nhà máy, công trình -5- trọng điểm. Do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa dịch vụ, xây dựng; Các nước đang phát triển thường áp dụng mô hình Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của UN, trong khi các nước phát triển thường áp dụng mô hình Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của OECD. Mô hình UN áp dụng nguyên tắc đánh thuế tại nguồn, ưu tiên cho các nước đang phát triển quyền được đánh thuế đối với các thu nhập có nguồn phát sinh từ nước mình; Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; Trong quá trình hội nhập, xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các nước thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI, các công ty nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không hình thành pháp nhân đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng về nhiều lĩnh vực, trong đó có thuế.
Chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài cũng dựa trên một mặt bằng chung như đối với các doanh nghiệp trong nước, xây dựng một sân chơi chung cho các doanh nghiệp hoạt động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế. Thuế NTNN, cũng như các loại thuế đánh vào đối tượng khác, có vai trò điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các NTNN, xây dựng các quy định quản lý hoạt động của các NTNN, định hướng phát triển nền kinh tế. Bên cạnh vai trò chung của thuế, thuế NTNN còn có vai trò riêng, thể hiện ở các điểm sau: -6- Điều chỉnh hoạt động của NTNN theo hướng: tạo điều kiện thuận lợi cho NTNN hoạt động, tuy nhiên vẫn đảm bảo cho các doanh nghiệp trong nước hoạt động và phát triển tốt; Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, thuế suất đối với tình loại hình sản xuất, kinh doanh có thể được điều chỉnh nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh kinh tế của thuế, mà cụ thể là điều chỉnh thuế suất các loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của NTNN cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế từng thời điểm.