phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tải liệu tham khảo, nội dung luận văn được bồ cục làm ba chương Chương l: Cơ sở lý luận về chính sách khách hàng trong công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chính sách khách hàng trong công tác huy động vốn tai NH TMCP Ngoại Thương VN — Chỉ nhánh Đà Nẵng. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách khách hang trong công tác huy động vốn tại NH TMCP Ngoại Thương VN ~ Chỉ nhánh Đả Nẵng CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHINH SACH KHACH HANG TRONG CÔNG TÁC HUY BONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI (NHTM) 1. NGUON VON HUY DONG CUA NHTM 1.
Các khái niệm Do đặc điểm tuần hoàn vốn, thu nhập và sử dụng thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân trải qua các giai đoạn khác nhau, không khớp về không gian vả thời gian, có lúc khách hàng này thừa vốn chưa sử dụng nhưng lại có những khách hàng khác thiếu vốn cần bô sung. Do đó NHTM với chức năng và nghiệp vụ của mình làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu. ~ Khái niệm vốn huy động: vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tô chức và cá nhân gửi ngân hàng. Ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tải nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của bất kỳ 'NHTM nào. ~ Dự trữ bắt buộc: là số tiền mả tô chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng vả từng loại tiền gửi tại tô chức tính dụng theo quy định của Luật ngân hàng nhà nước việt Nam (Luật số 46/2010/QH12 ngày 16/06/2010) ~ Dự trữ sơ cấp: bao gồm tiền mặt, tiền gửi, cụ thể + Tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt. + Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước.
+ Tiền gửi tại các ngân hàng khác. ~ Dự trữ thứ cấp là dự trữ không tổn tại bằng tiền mặt và tiền gửi mà bằng chứng khoán, nghĩa là những chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành. tiên một cách thuận lợi bao gồm tín phiếu kho bạc, hồi phiếu đã chấp nhận, các giấy nợ ngắn hạn khác. Gọi là dự trữ thứ cấp, bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt.
Tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn 1. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn mà hệ thống ngân hàng tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhân rỗi từ chỗ là phương. tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế.
Đây là nguồn vốn rất quan trọng để đầu tư phát triển nền kinh tế vì nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng của nó. Đặc biệt trong chiến lược phát triển của nước ta là xây dựng nên kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng điểm xuất phát thấp, ngân sách còn hạn hẹp, hầu như không có tích lũy từ trước, do đó vốn đầu tư cho các ngành kinh tế phải trông đợi rất nhiều vào nguồn vốn nội lực trong đó nguồn từ các ngân hàng huy động được là rất quan trọng vì nó tạo nên sự ôn định vững chắc cho sự phát triển nhanh ồn dịnh và bền vững lâu dài. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để sử dụng cho đầu tư phát triển bên cạnh đó thông qua nghiệp vụ huy động vốn giúp NHNN kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ ( tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ giá. Chẳng hạn muốn thu hút bớt lượng tiền trong lưu thông, NHNN tăng lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khống chế dư nợ tín dụng, và ngược lại.
nhằm điều hỏa lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát, binh 6n gid ca. Đối với NHTM Nghiệp vụ huy động vốn mang lại nguồn vốn cho ngân hảng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác: tin dụng, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ, phát triển khoa học công nghệ ngân hàng. Phần lớn vốn huy động bắt nguồn từ các hoạt động. huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, cá nhân cũng như từ việc vay mượn các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
có nghiệp vụ nảy thì ngân hàng thương mại sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình bởi vi khi một NHTM được cấp giấy phép thảnh lập phải cõ vốn điều lệ theo quy định, nhưng vốn điều lệ chỉ đủ tải trợ cho tải sản có định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thê thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Chính nguồn vốn nảy, chứ không phải nguồn vốn sở hữu đã tạo nguồn lực tài chính chủ yếu cho các hoạt động thường là một khoản chỉ phí lớn nhất đối với ngân hàng. Bên cạnh đó thông. qua nghiệp vụ này NHTM có thể đo lường được sự sự tín nhiệm, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng qua đó có những giải pháp không ngừng đây mạnh hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.
Chính nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết đầu vào của ngân hàng. Đối với khách hàng Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hang 1 kênh đầu tư, làm cho tiền của họ sinh lợi bằng cách gửi tiền vào ngân hàng, được hưởng lãi từ đó tạo điều kiện cho họ tăng khả năng tiêu dùng trong tương lai. Qua nghiệp vụ huy động vốn, Ngan hang cung cấp cho khách hàng một nơi an toản để cất trữ, tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi đồng thời giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng khi họ cần vốn cho sản xuất hoặc cho tiêu dùng và dịch vụ ủy thác thu hộ, chỉ hộ giúp họ tiết kiệm thời gian, chỉ phí vận chuyển, nhân lực và vật lực. Các hình thức huy động vốn của NHTM 1.
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi mang tính đặc thù riêng có của NHTM, là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tin dụng phi ngân hàng. Chinh vi đặc thủ này, NHTM thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi trong khi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi. ~Tiền sửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn ) a/ Khái ni 1à loại tiền gửi mã người gửi được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không bị rằng buộc về mặt thời gian, là hình thức huy động vốn của ngân hảng thương mại bằng cách mở cho khách hảng tài khoản gọi là tải khoản tiền gửi thanh. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng đề thực hiện các khoản chỉ trả về mua bán hàng hoá, dịch vụ, nhu cầu nhận chuyên tiền vào tải khoản, như nhận tiền lương.
hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước. Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đỏ ngân hàng. thực hiện việc trích chuyên tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả, bằng cách ghi Nợ vào tài khoản, sang tải khoản của đơn vị thụ hưởng, bằng cách ghỉ Có vào tải khoản. Để thực hiện được nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi khách hàng phải m tải khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hảng.
b/ Đặc điểm: Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vảo ngân hảng để nhở ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chỉ trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vảo tiền gửi thanh toán theo yêu. cầu Tiền gửi không kỳ hạn không phải là những khoản tiền để dành mà là một bộ phận tiền đang chờ đề thanh toán.
Do đó về mặt pháp lý khi gửi tiền không kỳ hạn theo tải khoản thanh toán đã thể hiện một hợp đồng mặc nhiên giữa khách hàng với ngân hàng. Trong đó ngân hàng có trách nhiệm thực hiện các khoản chỉ trả cho khách hàng một cách kịp thời chính xác trong phạm vi số dư. Khi gửi tiền vào tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút tiền bất kỳ lúc nảo vả không cần bảo trước nên khi ngân hảng sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh thi rủi ro cao. Do đó phải dự trữ nhiều hơn so với các loại tiền gửi khác.
Chính vì vậy ngân hãng, đối với loại tiền gửi nảy ngân hàng trả lãi suất thấp. Mục đích của người gửi không phải là để được hưởng lợi tức mà đẻ được ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, chính vì vậy lãi suất không phải là công cụ để thu hút nguồn vốn nảy, mà công cụ chính là dịch vụ ma ngân hàng cung cấp kèm theo phải là dịch vụ có nhiều tiện ích, an toản, nhanh chóng và chính xác. Loại này tuy biến động thưởng xuyên nhưng nó vẫn luôn có. một số dư ổn định do số tiền gửi vào và rút ra trong một thời kỳ có thể bù trừ cho nhau.
Vì vậy nếu sử dụng để làm nguồn vốn cho vay sẽ mang lại lợi nhuận cao cho. Mặc dù số dư tải khoản tiền gửi thanh toán của từng khách hàng thường không lớn, nhưng do là trung tâm tập trung tiền tệ và cung cấp dịch vụ thanh toán, nên NHTM có số lượng khách hàng rất đông làm cho tổng số vốn huy động qua tiền gửi thanh toán của tất cả khách hàng trở nên lớn đáng kế. ~ Tài khoản vãng lai: Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản được quyền ra lệnh cho ngân hàng chỉ trả trong phạm vi số tiền đã gởi vào. Còn đối với tài khoản vãng lai, thường áp dụng với khách hàng có uy tín, ngân hàng có thể cho thấu chỉ đến hạn mức phủ hợp với thu nhập bình quân của chú tải khoản nhằm.
đảm bảo trả nợ vay.