LỜI MỞ ĐẦU Trải qua hơn 20 năm, kể từ khi đưa ra những chính sách cải cách kinh tế vào năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đang không ngừng thay đổi. Hoà chung với xu hướng toàn cầu hóa của quốc tế và chính sách hợp tác đa dạng hóa, đa phương hóa, cùng phát triển, Việt Nam ngày nay, bên cạnh những hoạt động sản xuất thì hoạt động thương mại, dịch vụ cũng có sự phát triển vượt bậc. Có thể khẳng định rằng, ngành thương mại và dịch vụ của Việt Nam đang ngày càng trở nên lớn mạnh hơn. Điều đó được thể hiện qua tỷ trọng đóng góp vào GDP của ngành ngày càng gia tăng trong cơ cấu ngành của Việt Nam.
Một vấn đề đặt ra là khi hoạt động thương mại và dịch vụ càng phát triển thì hoạt động chiếm dụng vốn lẫn nhau diễn ra càng thường xuyên hơn. Doanh nghiệp càng muốn bán nhiều hàng để tăng doanh thu và lợi nhuận thì càng phải có nhiều chính sách kích cầu, chính sách bán chịu dành cho khách hàng. Khi doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng, điều đó chứa đựng rủi ro không thu được tiền hàng. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế đang rơi vào suy thoái như hiện nay, tình hình tài chính khó khăn làm cho các doanh nghiệp càng phải gánh chịu nhiều rủi ro hơn trong mua bán; các khoản nợ càng tiềm ẩn những rủi ro cao hơn; và các khoản phải thu khó đòi gia tăng nhiều hơn.
Khi đó, để đảm bảo phản ánh đúng thông tin về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải thực hiện trích lập dự phòng. Điều này đã được qui định trong chuẩn mực Việt Nam số 18 và thông tư 13/2006/TT-BTC ban hành năm 2006. Đây không phải là vấn đề mới, tuy nhiên, việc phản ánh nó như thế nào, xử lý nó ra sao để vừa tuân theo các qui định trong luật, chuẩn mực, thông tư hướng dẫn, các nguyên tắc kế toán, vừa trung thực hợp lý, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước, các nhà quản trị Đề tài nghiên cứu khoa học doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cung cấp, khách hàng, người lao động,… đó luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện chế độ kế toán hiện hành về dự phòng nợ phải thu khó đòi” để nghiên cứu.
Nội dung đề tài nghiên cứu khoa học bao gồm 3 phần cơ bản như sau: Phần 1: Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về dự phòng nợ phải thu khó đòi Phần 2: Kinh nghiệm kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi ở một số nước trên Thế giới Phần 3: Đánh giá, nhận xét và phương hướng hoàn thiện chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về dự phòng nợ phải thu khó đòi Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Mai Anh đã hướng dẫn giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn nên đề tài của chúng em không tránh khỏi những sai sót, cần phải sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô để hoàn thiện hơn đề tài này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2009 Nhóm nghiên cứu khoa học Đề tài nghiên cứu khoa học PHẦN 1: CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ DỰ PHÒNG NỢ PHẢI THU KHÓ ĐÒI. Đất nước ta đang trong giai đoạn chuyển mình sâu sắc, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường. Và chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với nền kinh tế Thế giới. Quá trình hội nhập đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện những định chế tài chính của mình để đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng và lành mạnh.
Để đáp ứng nhu cầu đó, cùng với việc nhận thức được tầm quan trọng của việc trích lập dự phòng, lần đầu tiên các khoản dự phòng nói chung và dự phòng nợ phải thu khó đòi nói riêng đã được đề cập đến trong thực hành kế toán Việt Nam vào năm 1997. Từ đó đến nay đã tồn tại nhiều văn bản có hiệu lực quy định về việc trích lập các khoản dự phòng, và các văn bản này cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với sự đổi mới qui chế tài chính. Hiện nay, các văn bản hiện hành có qui định về kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi bao gồm: Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18-Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng. Bộ tài chính trong lần ban hành chuẩn mực kế toán Việt Nam mới nhất cũng đã dành riêng một chuẩn mực nhằm qui định về các khoản dự phòng là Chuẩn mực số 18- Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng (ban hành và công bố theo Quyết định số 100/QĐ-BTC ngày 28/12/2005).
Chuẩn mực đưa ra các nguyên tắc chung cho việc ghi nhận và xử lý các khoản dự phòng do đó công tác kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi cũng phải lấy đó làm cơ sở để tiến hành. Bên cạnh đó, việc thực hiện trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi còn được qui định tại chế độ kế toán Việt Nam hiện hành ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006. Chế độ kế toán được coi như chiếc xương sống trong tổ chức công tác kế toán tại mọi đơn vị. Đề tài nghiên cứu khoa học Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi và thống nhất trong việc thực hiện, Bộ tài chính còn ban hành Thông tư số 13/2006/QĐ-BTC ngày 27/03/2006 nhằm hướng dẫn chi tiết kế toán các khoản dự phòng giảm giá nói chung và dự phòng nợ phải thu khó đòi nói riêng.
Thông tư này ra đời thay thế cho các Thông tư đã tồn tại trước đây là Thông tư 107/2001/QĐ- BTC ngày 31/12/2001 và Thông tư 89/2002/QĐ-BTC ban hành ngày 09/10/2002 để sửa đổi, bổ sung cho Thông tư 107. Như vậy, hiện nay Thông tư 13/2006 là thông tư duy nhất có hiệu lực qui định về kế toán dự phòng nợ phải thu khó đòi. Lý luận chung về dự phòng nợ phải thu khó đòi 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc lập dự phòng phải thu khó đòi.
Khái niệm và bản chất của dự phòng nợ phải thu khó đòi. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18-Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng, một khoản dự phòng được hiểu là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian. Và chỉ được ghi nhận là một khoản dự phòng khi thỏa mãn đủ ba điều kiện sau: Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra. Sự giảm sút về những lợi ích kinh tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ.
Đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó. Còn theo chuẩn mực kế toán Quốc tế số 37 (IAS 37): Một khoản dự phòng được hiểu là một khoản nợ phải trả có giá trị và thời gian không chắc chắn trong đó một khoản nợ phải trả là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ, việc thanh toán các nghĩa vụ này được dự tính là sẽ làm giảm các nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp gắn liền với các lợi ích kinh tế. Nói chung, về cơ bản hai khái niệm này khá đồng nhất. Đề tài nghiên cứu khoa học Trên cơ sở khái niệm chung về dự phòng, Thông tư 13/2006 đưa ra khái niệm dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Dự phòng nợ phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng có thế không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán. Như vậy có thể hiểu đơn giản: Dự phòng nợ phải thu khó đòi là sự xác nhận về phương diện kế toán một khoản giảm giá trị các khoản phải thu giữa giá trị trên sổ so với giá trị thực tế có thể thu hồi được tại thời điểm lập Báo cáo tài chính do những nguyên nhân mà hậu quả của chúng là không chắc chắn. Thực chất lập dự phòng nợ phải thu khó đòi là việc ghi nhận trước một khoản chi phí thực tế chưa phát sinh vào chi phí kinh doanh của niên độ báo cáo để có nguồn tài chính cần thiết bù đắp những thiệt hại có thể sẽ xảy ra trong niên độ liền sau. Dự phòng làm tăng tổng chi phí, do vậy nó đồng nghĩa với sự giảm thu nhập ròng của niên độ báo cáo - niên độ lập dự phòng.
Cơ sở cho việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi. Các nguyên tắc kế toán được ví như bộ khung đầy đủ của lý thuyết kế toán, do vậy, có thể nói đó là cơ sở, là xuất phát điểm cho mọi hạch toán kế toán. Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi là một hệ thống bao gồm các giả định về hạch toán, các khái niệm cơ bản của kế toán và các nguyên tắc kế toán chủ yếu được những người hành nghề kế toán chấp nhận rộng rãi nhằm tạo sự thống nhất trong việc sử dụng và trình bày các thông tin kế toán. Việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi cũng đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc kế toán chung này đặc biệt là hai nguyên tắc: nguyên tắc giá gốc và nguyên tắc thận trọng.
Theo nguyên tắc giá gốc (hay còn gọi là nguyên tắc chi phí hay giá phí lịch sử) thì việc tính toán giá trị tài sản, công nợ, vốn, doanh thu, chi phí phải dựa trên giá trị thực tế mà không quan tâm đến giá thị trường. Điều này Đề tài nghiên cứu khoa học có nghĩa là doanh nghiệp phải theo dõi các khoản nợ phải thu theo giá trị thực tế tại thời điểm ban đầu khi ghi nhận khoản phải thu. Tuy nhiên, nguyên tắc thận trọng lại đòi hỏi thông tin kế toán được cung cấp cho người sử dụng phải đảm bảo sự thận trọng thích đáng để người sử dụng không hiểu sai hoặc không đánh giá quá lạc quan về tình hình tài chính của đơn vị.