Mở đầu Chương Mục đích của BCTC trong Khái niệm kế toán tài chính số 8 - Statement of Financial Accounting Concepts No.8 (SFAC 8), FASB khẳng định, mục đích của BCTC là nền tảng của khuôn mẫu lý thuyết cho BCTC. FASB cũng xác định mục đích của BCTC là cung cấp thông tin tài chính hữu ích về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác trong việc đưa ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn tương đồng với IFRS Framework của IASB. - 14 - Các nội dung thông tin về các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp và các nghĩa vụ nợ, cũng như sự thay đổi của chúng, thông tin về kết quả tài chính, thông tin về lưu chuyển tiền trình bày trong SFAC 8 cũng được FASB quy định hoàn toàn tương đồng với IFRS Framework của IASB.
Đây là kết quả của một dự án hội tụ kế toán giữa IASB và FASB (IASB - FASB Convergence Project) được triển khai từ năm 2004, trong đó có dự án hội tụ về khuôn mẫu lý thuyết cho BCTC. Theo đó, với việc lựa chọn quan điểm đơn vị (entity pespective) thay vì quan điểm chủ sở hữu (proprietary pespective), cả IASB và FASB đều khẳng định cần có sự ưu tiên trong những người sử dụng BCTC để đảm bảo tính tập trung của thông tin cho việc ra quyết định. Như vậy, mục đích của BCTC là cung cấp thông tin tài chính hữu ích về doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng, trong đó chủ yếu là nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác, trong việc đưa ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho doanh nghiệp. Vai trò của Báo cáo tài chính Thông thường, vai trò của BCTC được xem xét thông qua mục đích và lợi ích mang lại của việc sử dụng thông tin của một số đối tượng chủ yếu.
Theo IASB và FASB, các đối tượng sử dụng BCTC bao gồm nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác và một số đối tượng khác liên quan đến việc ra các quyết định kinh tế. Các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác cần thông tin về các nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ để đánh giá triển vọng của dòng lưu chuyển tiền thuần trong tương lai mà còn đánh giá hiệu quả quản lý đối với việc sử dụng các nguồn lực hiện hữu của doanh nghiệp. Họ không thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin trực tiếp mà phải dựa vào BCTC cho nhiều thông tin tài chính mà họ cần. Vì vậy, họ là những người sử dụng chính mà BCTC hướng tới.
Các quyết định của nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng về việc mua, bán hoặc nắm giữ cổ phiếu và công cụ nợ phụ thuộc vào thu nhập mà họ mong đợi từ việc - 15 - đầu tư, ví dụ như cổ tức, các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc sự gia tăng giá trị thị trường. Tương tự như vậy, quyết định của người cho vay và các chủ nợ khác về việc cung cấp các khoản cho vay và các hình thức tín dụng khác phụ thuộc vào các khoản thanh toán nợ gốc và lãi hoặc các khoản thu nhập khác mà họ mong đợi. Kỳ vọng của các các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác về lợi nhuận phụ thuộc vào đánh giá của họ về giá trị, thời gian và triển vọng của dòng lưu chuyển tiền thuần trong tương lai. Do vậy, các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác cần thông tin để giúp họ đánh giá triển vọng lưu chuyển tiền thuần trong tương lai của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp tất cả thông tin mà nhà đầu tư, người cho vay và chủ nợ khác cần. Những người sử dụng cần phải xem xét thông tin cần thiết từ các nguồn khác, chẳng hạn, điều kiện và triển vọng của nền kinh tế, sự kiện, môi trường chính trị, công nghệ, tương lai doanh nghiệp. BCTC không được thiết kế để trình bày thông tin về giá trị doanh nghiệp nhưng chúng cung cấp thông tin giúp nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác ước tính giá trị doanh nghiệp (IASB, 2010a). IFRS Framework cũng lưu ý rằng, các bên liên quan khác như cơ quan quản lý, tổ chức, công chúng không phải là những nhà đầu tư, chủ nợ cũng có thể tìm thấy thông tin hữu ích trên BCTC, mặc dù BCTC không phục vụ trực tiếp cho những nhóm đối tượng này.
Ở một khía cạnh khác, khi tiếp cận vai trò của BCTC dưới góc độ yêu cầu pháp lý của việc cung cấp thông tin, thì vai trò của BCTC được thể hiện thông qua trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc soạn thảo BCTC và công bố thông tin. Chẳng hạn, các nội dung trình bày trên BCTC nộp cho cơ quan thống kê, thuế vụ có xu hướng khuôn mẫu, thiếu linh hoạt, đủ đáp ứng yêu cầu pháp lý có liên quan. Ngoài ra, vai trò của BCTC đối với người sử dụng còn bị chi phối bởi quy mô, đặc điểm của doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp nhỏ, vai trò của BCTC hướng đến người quản lý doanh nghiệp nhiều hơn, mục đích công bố thông tin nhằm tìm kiếm vốn đầu tư hay nhà tài trợ thường hạn chế… - 16 - Tóm lại, bản chất của BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, cung cấp thông tin cho những người có quan hệ lợi ích với doanh nghiệp trong việc ra các quyết định kinh tế, chủ yếu bao gồm nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, người cho vay và các chủ nợ khác.
Kết quả của dự án hội tụ giữa IASB và FASB khẳng định cần có sự ưu tiên trong những người sử dụng BCTC để đảm bảo tính tập trung của thông tin cho việc ra quyết định. Tất cả các bên cung cấp vốn đều có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ; những nhà đầu tư và chủ nợ tiềm năng cần được cung cấp thông tin cho việc ra quyết định. Những đối tượng khác có thể tìm thấy những thông tin hữu ích từ BCTC nhưng họ không phải là đối tượng chính mà BCTC hướng tới. Các thông tin cung cấp trên BCTC được xác định cân bằng cho các đối tượng sử dụng chủ yếu, thông tin để đánh giá khả năng quản lý cũng được xem là một mục đích quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quyết định của những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp.
Sau gần 25 năm ban hành khuôn mẫu lý thuyết của IASB (từ năm 1989) và 35 năm của FASB (từ năm 1978), khái niệm sự thay đổi nguồn lực được hệ thống thành 2 nhóm chính: thay đổi do kết quả kinh doanh và không do kết quả kinh doanh. Thông tin về hoạt động kinh doanh và thông tin về lưu chuyển tiền trở thành hai cách tiếp cận bổ sung cho nhau trong việc trình bày sự thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp trên BCTC. Đặc điểm chất lượng và các nhân tố tác động đến báo cáo tài chính 1. Đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính 1.
Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích Tính hữu ích của BCTC cũng chính là tính hữu ích của thông tin kế toán được trình bày trên BCTC. Chính xác hơn, chính những tính chất đặc trưng của thông tin trên BCTC đã làm cho nó trở nên hữu ích qua việc thông tin được quan tâm, được tin cậy và sử dụng để mang lại lợi ích. Để có thể cung cấp thông tin hữu ích, BCTC cần thỏa mãn các đặc điểm chất lượng. Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích trình bày dưới đây là theo kết quả của một dự án hội tụ giữa IASB và FASB.
Nói cách - 17 - khác, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích là tương đồng theo quan điểm của IASB và FASB (Chương 3 trong IFRS Framework và Chương 3 trong SFAC 8). Theo đó, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích là các đặc tính thông tin có thể hữu ích nhất cho nhà đầu tư, người cho vay và chủ nợ khác trong việc ra quyết định về doanh nghiệp trên cơ sở thông tin trên BCTC (IASB, 2010a). Theo IASB và FASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích được phân ra thành các đặc điểm chất lượng cơ bản và các đặc điểm chất lượng bổ sung. Các đặc điểm chất lượng cơ bản: thích hợp và trình bày trung thực.
Các đặc điểm chất lượng bổ sung: có thể so sánh; có thể kiểm chứng; kịp thời và có thể hiểu. Các đặc điểm chất lượng cơ bản (1) Thích hợp (Relevance) Để thích hợp, thông tin kế toán phải có khả năng tạo ra sự khác biệt trong việc ra quyết định của đối tượng sử dụng thông tin. Theo đó, “nó phải có giá trị dự đoán, giá trị xác nhận, hoặc cả hai” (IASB, 2010a, p. Thông tin tài chính có giá trị dự đoán (predictive value) nếu nó có thể được sử dụng như một dữ liệu đầu vào cho người sử dụng dự đoán kết quả tương lai.
Thông tin tài chính có giá trị xác nhận (confirmatory value) nếu nó cung cấp thông tin phản hồi về các đánh giá trước đó. Giá trị dự đoán và giá trị xác nhận của thông tin tài chính liên quan đến nhau. Thông tin có giá trị dự đoán thường cũng có giá trị xác nhận. Chẳng hạn, thông tin về doanh thu năm hiện tại, có thể được sử dụng làm cơ sở để dự đoán doanh thu trong những năm tương lai, cũng có thể được so sánh với dự đoán doanh thu cho năm hiện tại đã được thực hiện trong năm trước.
Kết quả của những so sánh đó có thể giúp cải thiện các quy trình đã được sử dụng để thực hiện những dự đoán trước đó (IASB, 2010a). Trọng yếu là một khía cạnh của tính thích hợp mà nó tùy thuộc vào tính chất và mức độ của khoản mục được đề cập. Vì vậy, IASB và FASB không xác - 18 - định một ngưỡng định lượng thống nhất cho trọng yếu hay đưa ra trước những gì có thể là trọng yếu. Thông tin đầy đủ bao gồm tất cả các thông tin cần thiết cho người sử dụng hiểu được các hiện tượng, bao gồm tất cả các mô tả và giải thích cần thiết.
Đối với một số khoản mục, thông tin đầy đủ cũng đòi hỏi có sự giải thích các sự kiện quan trọng về chất lượng và tính chất của khoản mục, các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến bản chất của khoản mục.