CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh (tiếng anh: Business Strategy) là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Có thể xem như là một kế hoạch dài hạn để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chiến lược kinh doanh thể hiện thế mạnh của doanh nghiệp, các nguồn lực có thể huy động, các cơ hội cũng như điểm yếu và mối nguy phải đối mặt.
Còn các nhà nghiên cứu như Fred R. David (2003) thì chiến lược kinh doanh là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hướng mục tiêu để các nguồn lực của tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược theo quan điểm cạnh tranh được phát triển bởi Michael E.Porter (2006) trong những năm sau thế chiến thứ II.Porter nhấn mạnh sự khác biệt giữa khái niệm chiến lược (strategy) và khái niệm hoạt động hiệu quả (operational effectiveness). Hoạt động hiệu quả nghĩa là thực hiện các hành động tương tự nhưng tốt hơn đối thủ.
Trong khi đó, chiến lược là thực hiện những hành động khác biệt đối thủ, hoặc hành động tương tự trên một cách thức hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt được nhấn mạnh một cách quan trọng trong quan điểm của M.Porter để tiến tới mục tiêu định vị tổ chức trong một môi trường cạnh tranh gay gắt. Chiến lược cạnh tranh xoay quanh vấn đề tiềm lực của doanh nghiệp, điểm mạnh, điểm yếu trong mối liên quan với đặc trưng thị trường và tiềm lực tương ứng, điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh. Porter đã phát triển quan điểm về chiến lược cạnh tranh của mình thành hệ thống khái niệm cạnh tranh quốc gia, trong đó tập trung vào năng lực cạnh tranh quốc gia, lấy yếu tố năng suất làm trung tâm cốt lõi, phát triển các ngành, nhóm ngành có năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia.
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, cả phạm vi vĩ mô cũng như vi mô. Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra. Như ta thấy trong định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc hợp nhất việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ thống thông tin, các lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức. Quản trị và hoạch định chiến lược kinh doanh 1.1 Quản trị chiến lược 1.1 Khái niệm quản trị chiến lược (Strategic Management) Quản trị chiến lược là một vấn đề được rất nhiều nhà kinh tế cũng như các quản trị gia quan tâm.
Do nội dung của quản trị chiến lược rất rộng về phạm vi nghiên cứu và phong phú trong thực tế vận dụng nên ở mỗi góc nhìn người ta lại đưa ra quan điểm, định nghĩa khác nhau về quản trị chiến lược. Dưới đây là một số định nghĩa về quản trị chiến lược. Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh. Chandler (1962) định nghĩa chiến lược kinh doanh là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đề ra này.
David (1995): “Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”. Theo Garry Smith (2007): “Quản trị chiến lược là các quá trình nghiên cứu môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu tổ chức đề ra và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”. Trong các quan điểm về chiến lược của các học giả đã nêu trên thì mỗi quan điểm tiếp cận chiến lược theo một cách khác nhau, tuy nhiên các học thuyết này đều dẫn các nhà quản trị đến mục tiêu cần đạt được. Tuy mỗi cách nhìn đó chưa hoàn toàn đầy đủ, toàn diện nhưng trong tổng thể, những cách nhìn đó đã góp phần to lớn vào việc nhận thức và thực hiện công tác quản trị trong doanh nghiệp.
Quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp phát hoạ được bức tranh công ty trong tương lai và hướng tới tư tưởng tiến công để giành ưu thế trên thị trường. Ngoài ra còn giúp các nhà quản trị thấy rõ được điểm mạnh, yếu, cơ hội, nguy cơ của tổ chức và từ đó đưa ra được các quyết định đắn, các chiến lược kinh doanh tốt hơn.2 Ý nghĩa của việc quản trị chiến lược Quản trị chiến lược cho phép công ty năng động hơn là phản ứng lại trong việc định hình tương lai. Nó cho phép một công ty sáng tạo ra và ảnh hưởng (hơn là chỉ 6 phản ứng) với môi trường; và do đó kiểm soát được số phận của chính mình. Các chủ sở hữu doanh nghiệp nhỏ, các nhà điều hành cao cấp, chủ tịch và các nhà quản trị viên của các tổ chức phi lợi nhuận đã nhận và ý thức được các lợi ích của quản trị chiến lược.
Các nghiên cứu cho thấy rằng các công ty sử dụng khái niệm quản trị chiến lược có nhiều lợi nhuận và thành công hơn là các công ty không sử dụng. Quản trị chiến lược ngoài việc giúp các công ty tránh được rủi ro tài chính, nó còn cho thấy các lợi ích rõ ràng khác, sự cảm nhận về những đe dọa từ môi trường, sự hiểu biết về các chiến lược của đối thủ được cải thiện, năng suất nhân viên tăng lên, việc phản đối thay đổi giảm xuống, và sự thông hiểu về mối quan hệ thành tích và phần thưởng rõ ràng hơn. Quản trị chiến lược làm tăng khả năng phòng ngừa ngăn chặn các vấn đề khó khăn của các công ty, vì nó khuyến khích mối quan hệ hỗ tương giữa các quản trị viên ở các cấp bộ phận và chức năng. Bên cạnh việc trao quyền cho các quản trị viên và nhân viên, quản trị chiến lược thường mang đến trật tự và kỷ luật cho một công ty còn lúng túng trong lề lối.
Quản trị chiến lược có thể phục hồi niềm tin tưởng vào chiến lược hiện tại hoặc cho thấy sự cần thiết phải có những hành động điều chỉnh. Quá trình quản trị chiến lược cung cấp cơ sở cho việc xác định và hợp lý hóa sự cần thiết phải thay đổi cho tất cả các quản trị viên; nó giúp họ xem xét sự thay đổi như là một cơ hội hơn là một đe dọa. Bùi Văn Đông (2011) Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn vào các cơ hội và nguy cơ trong việc vạch rõ tương lai của mình; nó cho phép một tổ chức có thể tiên phong và gây ảnh hưởng cho môi trường nó hoạt động. Quá trình quản trị chiến lược bắt buộc nhà quản lý phải phân tích và dự báo các điều kiện trong tương lai gần và tương lai xa.
Thực hiện quản trị chiến lược sẽ giúp các doanh nghiệp thấy rõ được mục đích và hương đi của mình. Nó giúp cho ta phải xác định, xem xét doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt được kết quả cụ thể nhất. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp ta nắm vững được việc gì phải làm để đạt được thành công. Quản trị chiến lược giúp cho doanh nghiệp, những người quản lý cũng như nhân viên có cách nhìn dài hạn và hướng thiện hơn, nó cũng có thể làm sống lại niềm tin vào chiến lược đang áp dụng hoặc chỉ ra sự cần thiết phải có sự sửa đổi.
Quá trình quản trị chiến lược còn cung cấp cơ sở cho việc vạch ra và lý giải về nhu cầu cần có sự thay đổi cho ban giám đốc và mọi người trong công ty. Nó giúp cho 7 họ nhìn nhận những thay đổi như là cơ hội mới chứ không phải mối đe dọa. Nhờ có quản trị chiến lược, chúng ta sẽ gắn liền các quyết định với môi trường liên quan. Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi điều kiện dự báo sao cho có thể đạt được mục tiêu đề ra.
Quyết định chủ động tấn công là dự đoán các điều kiện môi trường trong tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối ưu hóa vị thế của doanh nghiệp trong môi trường đó bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và chuẩn bị tốt hơn để thực hiện các cơ hội. Trong thực tế đã chứng minh nếu doanh nghiệp áp dụng quản trị chiến lược thì đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt hơn so với kết quả trước đó. Đồng thời cũng tốt hơn doanh nghiệp không áp dụng quản trị chiến lược, điều này chứng minh được áp dụng quản trị chiến lược sẽ giảm bớt rủi ro và tăng khả năng trong việc tranh thủ các cơ hội trong môi trường.3 Các yêu cầu của Chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh gồm các quan điểm, tư tưởng giúp doanh nghiệp có lợi thế để tồn tại và phát triển. Các quan điểm khẳng định vai trò và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Nó trả lời cho các câu hỏi: Doanh nghiệp tồn tại vì mục đích gì? Doanh nghiệp tồn tại trong lĩnh vực nào? Và định hướng phát triển của doanh nghiệp là gì? Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp trong một thời gian nhất định là trạng thái mong đợi, cần phải có và có thể có của doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động. Mục tiêu được thực hiện trong chiến lược kinh doanh trả lời câu hỏi: doanh nghiệp cần đạt được những gì và cần đi đến đâu sau một thời gian nhất định? Các mục tiêu cơ bản là: Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập bình quân của người lao động, xâm nhập thị trường,. Mục tiêu chiến lược dựa trên cái cần phải có (cơ hội) và cái có thể có (nguồn lực và tiềm năng) của doanh nghiệp. Đó mới là mục tiêu hợp lý.
Một chiến lược kinh doanh phải đảm bảo tăng thế lực của doanh nghiệp và giành được lợi thế cạnh tranh. Muốn vậy khi xây dựng chiến lược, doanh nghiệp phải triệt để khai thác lợi thế so sánh cuả mình.