Chương 1): liên quan đến hòa hợp kế toán, BCTC HN Thiết lập các giả thuyết về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và và hòa hợp BCTC HN quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN, từ chuẩn mực đến thực tiễn Kết quả: * Cơ sở lý thuyết về sự hòa hợp trong kế toán lập và trình bày BCTC HN trên phạm vi thế giới Phương pháp cụ thể: Phương pháp quan sát (Chương 2): Quan sát, thu thập thông tin từ các nghiên cứu đã được thực hiện về hòa hợp kế toán, hòa hợp kế toán lập và trình bày BCTC HN Kết quả * Phương pháp nghiên cứu cụ thể lựa chọn để kiểm định các giả thuyết về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN, từ chuẩn mực đến thực tiễn Phương pháp cụ thể: Phương pháp thống kê (chương 4) Phương pháp cụ thể: Phương pháp quan sát, thống kê (chương 3) *Thống kê mô tả * Quan sát, thu thập thông tin từ các CMKT Việt Nam và *Hệ số Jaccard có điều chỉnh, chỉ số Absence, chỉ số các văn bản pháp luật có liên quan về lập và trình bày BCTC Divergence, khoảng cách Average, chỉ số H và chỉ số C, HN. * Mô hình hồi qui bội * Thống kê mô tả tình hình thực tế lập và trình bày BCTC HN của các doanh nghiệp Việt Nam Một số đề xuất góp phần thực hiện tiến trình hòa hợp kế toán lập và trình bày BCTC HN tại Việt Nam (Chương 5) Hình 0. Khung nghiên cứu của luận án 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu: + CMKT của một số quốc gia trên thế giới, CMKT của Việt Nam1 và IAS/IFRS liên quan đến lập và trình bày BCTC HN. + Thực tế kế toán lập và trình bày BCTC HN tại các DN Việt Nam. + Chất lượng BCTC HN của các DN Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: 3.
Về không gian: 1 Trong phạm vi luận văn, cụm từ “CMKT của Việt Nam” dùng để chỉ tất cả các văn bản pháp luật kế toán, bao gồm: VAS, chế độ kế toán, thông tư hướng dẫn… 123doc 5 Các quốc gia có CMKT được lựa chọn để nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết về hòa hợp CMKT lập và trình bày BCTC HN ở phạm vi quốc tế bao gồm: Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong đó, dựa trên cách phân loại hệ thống kế toán của các quốc gia do Mueller et al (1997) đưa ra: Hoa Kỳ, Anh đại diện cho nhóm các nước theo mô hình Anglo – Saxon; Nhật Bản đại diện cho nhóm các nước theo mô hình lục địa; Trung Quốc đại diện cho nhóm các nước theo mô hình kinh tế hỗn hợp. Các CMKT của Việt Nam được nghiên cứu là các VAS có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lập và trình bày BCTC HN, bao gồm: VAS số 01, 07, 08, 10, 11, 21, 24, 25 và các văn bản pháp luật hướng dẫn kế toán khác có liên quan. Các DN được nghiên cứu là các công ty mẹ, không hoạt động trong lãnh vực tài chính - ngân hàng và môi giới chứng khoán, có cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh tại ngày 31/12/2011.
Về thời gian: Dựa trên thời gian ban hành/sửa đổi của các VAS và IAS/IFRS và thời điểm IAS bắt đầu có những thay đổi đáng kể, luận án đưa ra giả định rằng VAS về lập và trình bày BCTC HN được lập trên cơ sở các IAS/IFRS được ban hành trước năm 2004, do đó mức độ hòa hợp giữa kế toán Việt Nam với quốc tế đạt mức độ cao so với bộ CMKT quốc tế có hiệu lực trước năm 2004 nhưng chỉ đạt mức thấp với bộ CMKT quốc tế có hiệu lực sau năm 2004. Căn cứ trên giả định này, luận án tập trung nghiên cứu các bộ CMKT quốc gia và quốc tế có hiệu lực từ năm 2003 cho đến nay. Ngoài ra, để đo lường mức độ hòa hợp giữa kế toán Việt Nam với IAS/IFRS và đánh giá tính thích hợp của thông tin do BCTC HN cung cấp, luận án còn sử dụng BCTC, BCTC HN, và các công bố thông tin khác từ năm 2008 đến năm 2011 của các công ty trong phạm vi khảo sát. Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung kế toán chỉ riêng có trong kế toán lập và trình bày BCTC HN: Kết cấu của các BCTC HN; Trình tự và phương pháp lập BCTC HN; Kế toán hợp nhất kinh doanh hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con; Kế toán chia, tách, cổ phần hóa một bộ phận DN thành công ty con; Phương pháp kế toán khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh trên BCTC HN; Kế toán chuyển đổi BCTC của công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh ở nước ngoài trước khi hợp nhất vào BCTC HN.
Tính mới và những đóng góp của luận án 4. Về phương diện khoa học + Hệ thống hóa các quan điểm về mối quan hệ giữa hòa hợp CMKT và hòa hợp thực tế kế toán, giữa hòa hợp kế toán với chất lượng của thông tin do BCTC cung cấp. + Hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu định lượng có thể áp dụng khi nghiên cứu về hòa hợp kế toán. + Khái quát hóa cơ sở lý thuyết về sự hòa hợp CMKT giữa các quốc gia với IAS/IFRS trong việc lập và trình bày BCTC HN.
Về phương diện thực tiễn + Phác họa được khá đầy đủ và toàn diện về kế toán lập và trình bày BCTC HN tại Việt Nam, từ chuẩn mực đến thực tiễn. + Định lượng được mức độ hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN. + Có thể là tài liệu tham khảo có những ai có quan tâm đến kế toán lập và trình bày BCTC HN, từ góc độ lý thuyết cơ bản đến kỹ thuật thiết lập, trong phạm vi các DN Việt Nam cũng như ở một mức độ giới hạn ở phạm vi quốc tế. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án được bố cục theo 5 chương như sau: - Chương 1.
Cơ sở lý thuyết về hòa hợp kế toán trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất. Phương pháp nghiên cứu. Kế toán lập và trình bày BCTC HN tại Việt Nam – Từ chuẩn mực đến thực tiễn. Kiểm định các giả thuyết về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN – Từ chuẩn mực đến thực tiễn.
Một số đề xuất nhằm góp phần thực hiện tiến trình hòa hợp với kế toán quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN – Từ chuẩn mực đến thực tiễn tại Việt Nam. 123doc 7 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÒA HỢP KẾ TOÁN TRONG VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT Giới thiệu Nhiệm vụ nghiên cứu của chương 1 là: (1) Tổng hợp, phân tích các nghiên cứu về: (i) Hòa hợp kế toán trên các khía cạnh: bản chất của hòa hợp kế toán, các loại hòa hợp kế toán và mối quan hệ giữa các loại hòa hợp kế toán, mối quan hệ giữa hòa hợp kế toán với chất lượng của BCTC, các nhân tố ảnh hưởng đến hòa hợp kế toán; (ii) Báo cáo tài chính hợp nhất; (iii) Hòa hợp kế toán lập và trình bày BCTC HN, đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam (2) Xây dựng các giả thuyết về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN, từ chuẩn mực đến thực tiễn. Các câu hỏi nghiên cứu được giải quyết trong chương này bao gồm: - Thứ nhất: Bản chất của hòa hợp kế toán? Hòa hợp kế toán có dẫn đến hòa hợp thực tế kế toán? Hòa hợp kế toán có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng BCTC do các DN cung cấp? Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến tiến trình hòa hợp kế toán? - Thứ hai: Mục đích, đặc điểm chất lượng và các nguyên tắc chung liên quan đến việc lập và trình bày BCTC HN ? Điều gì có thể rút ra từ kết quả của các nghiên cứu về BCTC HN và hòa hợp kế toán lập và trình bày BCTC HN đã được thực hiện trong và ngoài nước ? - Thứ ba: Các vấn đề nào cần tiếp tục nghiên cứu để có thể đánh giá về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC HN? Các giả thuyết đặt ra cho mức độ hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế, từ chuẩn mực đến thực tiễn, trong việc lập và trình bày BCTC HN là gì ? 1.
Tổng quan về hòa hợp kế toán 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hòa hợp kế toán 1. Hòa hợp kế toán, chuẩn mực hóa kế toán và hội tụ kế toán Dưới góc độ tổng quát nhất, “hòa hợp kế toán” (thường gọi tắt là “hòa hợp” (harmonization)), “chuẩn mực hóa kế toán” (thường gọi tắt là “chuẩn mực hóa” (standardization)), “hội tụ kế toán” (thường gọi tắt là “hội tụ” (convergence)) được một số nhà nghiên cứu phác họa như sau: + Hòa hợp là sự kết hợp, điều chỉnh của hai hay nhiều đối tượng (Van der Tas, 1988, p. 123doc 8 + Hòa hợp là một tiến trình loại bỏ sự khác biệt hoàn toàn trong thực tế.
Trạng thái hòa hợp có thể được nhận biết qua các nhóm công ty tập hợp xung quanh một hoặc vài phương pháp có thể lựa chọn. Chuẩn mực hóa là quá trình hướng tới trạng thái đồng nhất. Trạng thái đồng nhất được nhận biết tương tự như trạng thái hòa hợp nhưng các phương pháp có thể lựa chọn được thu hẹp. Tiến trình hòa hợp không thể chia tách khỏi tiến trình chuẩn mực hóa.
Nói cách khác, trạng thái hòa hợp có thể là bất cứ điểm nào giữa hoàn toàn khác biệt và đồng nhất (Tay & Parker, 1990, p.73) + Hòa hợp có thể được xem là giai đoạn đầu tiên của tiến trình thiết lập chuẩn mực. Mục tiêu của hòa hợp là giảm sự khác biệt trong thực tế kế toán, từ đó tăng tính có thể so sánh được. Chuẩn mực hóa dẫn đến sự đồng nhất hoàn toàn, kết quả là chỉ còn một nguyên tắc kế toán duy nhất áp dụng trên phạm vi toàn cầu (Barbu, 2004, pp. 4 - 5) + Hội tụ là tiến trình chuyển động hướng về một điểm, đặc biệt là chuyển động hướng đến sự đồng nhất.
Tiến trình hội tụ với IAS cũng chính là tiến trình chuẩn mực hóa.