Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ 1. Khái quát về hỗ trợ đầu tư Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn là động lực quan trọng của sự phát triển, do đó, thu hút vốn đầu tư chính là cách thức tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế, cũng như đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác. Để thu hút vốn đầu tư, mỗi quốc gia đều thiết lập hệ thống chính sách phù hợp với điều kiện riêng của mình. Các chính sách thu hút vốn thường bao gồm bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư.
Trong đó, khuyến khích đầu tư có thể được phân chia thành ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư. Ở Việt Nam, thuật ngữ hỗ trợ đầu tư được nhắc tới lần đầu trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1994, sau đó tiếp tục được đề cập trong Luật đầu tư 2005 và Luật đầu tư 2014, tuy nhiên trong các văn bản này đều chưa đưa ra khái niệm về hỗ trợ đầu tư. Bên cạnh đó, các nghiên cứu khoa học trong thời gian qua ở Việt Nam cũng chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về pháp luật hỗ trợ đầu tư, mà chủ yếu là nghiên cứu chính sách ưu đãi đầu tư hoặc nghiên cứu chung về khuyến khích đầu tư nhưng cũng chỉ đề cập một cách sơ lược về hỗ trợ đầu tư, do đó, khái niệm về hỗ trợ đầu tư hiện vẫn chưa được làm rõ và phân tích đầy đủ. Trong khi đó, hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam bao gồm cả hỗ trợ đầu tư và ưu đãi đầu tư nên việc xác định rõ khái niệm và nội hàm của thuật ngữ hỗ trợ đầu tư là rất cần thiết cho việc nghiên cứu về chính sách này.
Trong nội dung phần này của luận văn sẽ phân tích, làm rõ khái niệm hỗ trợ đầu tư và các vấn đề liên quan đến hỗ trợ đầu tư. Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ đầu tư Trong các cuốn từ điển tiếng Việt hiện nay, bao gồm cả từ điển ngôn ngữ và các từ điển chuyên ngành pháp lý hay chuyên ngành kinh tế đều chưa giải thích trực tiếp thuật ngữ “hỗ trợ đầu tư”, mà chỉ có giải thích đơn lẻ từ “hỗ trợ” và từ “đầu tư”. Cụ thể như hỗ trợ được giải thích là “giúp nhau” [52, tr.385]; hoặc hỗ trợ là “giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào” [137, tr.592], trong đó giúp hay giúp đỡ được hiểu 8 là làm giảm bớt khó khăn để người được giúp thực hiện được công việc nào đó [137, tr. Còn đầu tư được hiểu là “bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [137, tr.394]; hoặc đầu tư là “việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh của cá nhân hay tổ chức…” [71, tr.233]; hoặc đầu tư là “việc bỏ vốn ra mua sắm tư liệu sản xuất để xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng xí nghiệp hoặc bỏ vốn ra cho vay dài hạn…” [134, tr.137]; hay đầu tư gồm đầu tư tài chính và đầu tư hiện vật, mà đầu tư tài chính là việc chi tiêu để mua các chứng khoán tài chính, còn đầu tư hiện vật là chi tiêu để mua sắm tài sản cố định hay hàng tồn kho [79, tr.
Nhìn chung, các tài liệu này dù diễn đạt khác nhau nhưng đều giải thích tương tự nhau về hai thuật ngữ “hỗ trợ” và “đầu tư”, trong đó cách giải thích nghĩa của từ “đầu tư” cũng tương ứng như cách giải thích thuật ngữ “đầu tư kinh doanh” trong Điều 3 khoản 5 của Luật đầu tư 2014, đó là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Từ cách giải nghĩa từ ngữ, bước đầu có thể hiểu hỗ trợ đầu tư là việc nhà đầu tư nhận được sự giúp đỡ nhằm làm giảm bớt những khó khăn trong quá trình họ bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận. Nhưng để xác định chính xác nội hàm của thuật ngữ này thì cần phải xem xét thêm các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan gần gũi với đề tài về hỗ trợ đầu tư của các tác giả khác, cũng như xem xét các hình thức hỗ trợ đầu tư theo quy định của Luật đầu tư 2014. Như đã giới thiệu ở trên, cho đến hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về các chính sách thu hút đầu tư, về pháp luật bảo đảm và khuyến khích đầu tư, và cũng có đề tài nghiên cứu về ưu đãi đầu tư.
Phần lớn các công trình nghiên cứu này chỉ đưa ra các khái niệm như: khuyến khích đầu tư; chính sách ưu đãi, khuyến khích về đầu tư; chính sách hỗ trợ đầu tư. Cụ thể như sau: Theo tác giả Trần Đình Khánh, khuyến khích đầu tư là “sự ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi hơn của nước chủ nhà cho nhà đầu tư nước ngoài so với các nhà đầu 9 tư trong nước hoặc chính với các đầu tư nước ngoài ở một số lĩnh vực và địa bàn đầu tư” [68, tr. Trong khi đó, tác giả Đinh Thanh Tâm lại cho rằng khuyến khích đầu tư “là việc nhà nước miễn hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ của các nhà đầu tư đối với nhà nước nhằm giảm bớt gánh nặng cho các nhà đầu tư như việc giảm thuế, tiền thuê đất… đồng thời ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong một số lĩnh vực và địa bàn đầu tư” [104, tr. Về chính sách ưu đãi, khuyến khích về đầu tư, tác giả Nguyễn Thị Minh Khuê đã xác định đó là việc “Nhà nước ban hành các quy định nhằm tạo điều kiện hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, của nền kinh tế xã hội và của nhà đầu tư” [70, tr.
Và chính sách hỗ trợ đầu tư thì được giải thích là những hoạt động giúp cho nhà đầu tư triển khai dự án sau khi đã quyết định đầu tư theo như tác giả Trương Quang Dũng [51, tr. Tác giả này còn khẳng định chính sách hỗ trợ đầu tư là các hoạt động cần thiết và tiếp theo của các bước: quảng bá hình ảnh địa phương và chính sách xúc tiến thu hút đầu tư. Có thể thấy những khái niệm này chưa giúp chúng ta xác định cụ thể hỗ trợ đầu tư là gì, khác biệt như thế nào với ưu đãi đầu tư và các chính sách đầu tư khác. Tuy nhiên, tất cả các tác giả đều thống nhất rằng chủ thể thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư, hay chính sách ưu đãi đầu tư và chính sách hỗ trợ đầu tư chính là Nhà nước (tức là Nhà nước là chủ thể đem lại những ưu đãi hay hỗ trợ) và đối tượng thụ hưởng thụ những ưu đãi và hỗ trợ đó chính là nhà đầu tư.
Ngoài ra, trong một nghiên cứu của tác giả Dương Nguyệt Nga, cũng về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, tác giả đã đề cập cụ thể đến hai khái niệm ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư với tư cách là hai hình thức khuyến khích đầu tư. Cụ thể, theo tác giả Dương Nguyệt Nga, “ưu đãi đầu tư là biện pháp được Nhà nước sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành hoặc khu vực cần thiết” và “các ưu đãi này có thể bao gồm bất kỳ lợi thế kinh tế nào có thể đo được, được dành cho các doanh nghiệp hoặc các loại hình doanh nghiệp cụ thể bởi 10 Chính phủ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp ứng xử theo một cách nhất định. Các ưu đãi này bao gồm các biện pháp được thiết kế để tăng tỷ lệ thu hồi vốn của một dự án đầu tư cụ thể, hoặc giảm bớt hay phân bổ lại các chi phí hoặc các rủi ro của dự án đó” [76, tr. Cũng tác giả Dương Nguyệt Nga đã chỉ ra “hỗ trợ đầu tư là những biện pháp tích cực chủ động về phía Nhà nước nhằm giúp đỡ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp.
Các biện pháp này thường được áp dụng trong trường hợp xảy ra những khó khăn, những bất lợi, những rủi ro đối với nhà đầu tư trong những dự án, những lĩnh vực, những địa bàn mà Chính phủ rất khuyến khích đầu tư” [76, tr. Về cơ bản, công trình nghiên cứu của tác giả này chưa có những phân tích làm rõ nội hàm của cả hai thuật ngữ ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư, sự khác biệt giữa hai khái niệm này cũng không được làm rõ. Do vậy, khái niệm về thuật ngữ hỗ trợ đầu tư ở nghiên cứu này đưa ra chưa thuyết phục. Các tài liệu nước ngoài (tiếng Anh) thường sử dụng cụm từ “investment incentives” để nói đến các chính sách thu hút vốn đầu tư, trong đó tuỳ vào chính sách mỗi quốc gia mà khuyến khích đầu tư (investment incentives) được cấu thành bởi trợ cấp đầu tư (investment grants) và các giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (corporate income tax credits) hoặc là cấu thành bởi ba thành phần là các khuyến khích tài chính (financial incentives) như hỗ trợ về vốn hoặc hỗ trợ các khoản vay; khuyến khích về thuế (fiscal incentives) và các khuyến khích khác như trợ cấp về cơ sở hạ tầng, các ưu tiên về thị trường và các quy định khác; hay khuyến khích đầu tư lại gồm tài trợ định kỳ (investment allowances), hoàn thuế (tax credit) và trợ cấp đầu tư (investment grants).
Trong đó, trợ cấp đầu tư (investment grants) thường được hiểu là khoản tài trợ của chính phủ để giúp các doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị mới hoặc cả xây dựng nhà xưởng. Nhìn chung, các thuật ngữ liên quan đến khuyến khích đầu tư mà pháp luật nước ngoài và các nghiên cứu nước ngoài nhắc đến không hoàn toàn tương ứng với cách xác lập và phân định thành phần trong chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam. Do vậy, để đi đến xác định chính xác về khái niệm hỗ trợ đầu tư trong chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam thì cần phải tiếp cận thêm về thuật ngữ này ở 11 góc độ pháp lý, tức là cần xem xét các quy định về hỗ trợ đầu tư trong các đạo luật về đầu tư ở Việt Nam.