Tổng quan nghiên cứu

Năm 2016, tổng chi ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển của Việt Nam đạt 268,2 nghìn tỷ đồng, tăng 46,4% so với năm 2010, đồng thời tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội đạt 826,1 nghìn tỷ đồng. Dù nguồn lực phân bổ gia tăng liên tục, thực tiễn áp dụng các chính sách khuyến khích đầu tư tại Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ tình trạng các hoạt động hỗ trợ đầu tư còn dàn trải, thiếu hiệu quả thực tế và chưa tạo ra động lực bứt phá để huy động dòng vốn tư nhân. Đáng chú ý, chỉ khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được các chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi từ Nhà nước.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về hỗ trợ đầu tư, phân định ranh giới pháp lý giữa hỗ trợ đầu tư với ưu đãi đầu tư và trợ cấp thương mại quốc tế; phân tích toàn diện thực trạng các quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành; từ đó xây dựng các giải pháp đột phá nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kết hợp khảo cứu kinh nghiệm điển hình tại 5 quốc gia bao gồm Hàn Quốc, Malaysia, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Thái Lan. Phạm vi thời gian tập trung phân tích các dữ liệu thực tiễn từ tháng 11/2014 đến năm 2018. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn công, hỗ trợ nâng điểm đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường, kết hợp với học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải vai trò kiến tạo của pháp luật kinh tế. Mô hình nghiên cứu phân tích chính sách khuyến khích đầu tư tổng thể dựa trên hai trụ cột độc lập nhưng bổ trợ cho nhau: ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư.

Khung lý thuyết xác lập 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi:

  • Hỗ trợ đầu tư: Biện pháp tích cực chủ động từ phía Nhà nước nhằm làm giảm bớt khó khăn, giảm thiểu chi phí và bù đắp rủi ro cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án kinh doanh.
  • Ưu đãi đầu tư: Lợi thế kinh tế đặc thù bằng tài chính (miễn giảm thuế, tiền thuê đất) được Nhà nước trao cho các chủ thể đáp ứng đầy đủ tiêu chí theo luật định.
  • Trợ cấp trong thương mại quốc tế: Khoản đóng góp tài chính của chính phủ hoặc cơ quan công quyền tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp theo quy định của Hiệp định SCM trực thuộc WTO.
  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nhóm chủ thể sản xuất kinh doanh có quy mô vốn và lao động giới hạn, thường xuyên đối mặt với rào cản tiếp cận nguồn lực thị trường.
  • Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội: Tập hợp các công trình giao thông, điện nước, viễn thông, xử lý chất thải và nhà ở công nhân phục vụ trực tiếp cho hoạt động dự án.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác đa tầng từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Đầu tư 2014, Luật Đất đai 2013, Nghị định 118/2015/NĐ-CP, Nghị định 210/2013/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP) kết hợp báo cáo thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu toàn diện đối với toàn bộ 1.536 hồ sơ chứng thư cam kết bảo lãnh tín dụng phát hành trong giai đoạn 2009-2011 cùng dữ liệu giám sát đến tháng 6/2017; khảo sát toàn bộ lực lượng 53,33 triệu lao động đang làm việc tại Việt Nam và tổng hợp khung pháp lý của 43 quốc gia có luật đầu tư chuyên biệt trên thế giới. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu toàn diện này là nhằm đảm bảo tính bao quát, loại trừ sai số mẫu và phản ánh bức tranh chân thực về mức độ thực thi chính sách.

Phương pháp phân tích kết hợp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học và thống kê mô tả. Việc kết hợp này giúp đối chiếu trực quan kinh nghiệm quốc tế với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của Việt Nam. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn 2014-2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã tạo bước tiến rõ rệt trong việc phân bổ vốn công. Tính đến hết năm 2016, tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thực tế trong các khu công nghiệp đạt 132 nghìn tỷ đồng (đạt 41,5% tổng vốn đăng ký), trong khi tại các khu kinh tế đạt 155 nghìn tỷ đồng (chiếm 52,4% tổng vốn đăng ký). Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển năm 2016 tăng 7,94% so với năm 2014 và tăng tới 46,4% so với năm 2010.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chưa đạt được hiệu quả tương xứng với ngân sách phân bổ. Mặc dù chi ngân sách cho giáo dục đào tạo duy trì đều đặn ở mức 4,5% GDP mỗi năm giai đoạn 2013-2016 với tốc độ tăng bình quân 8%/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên tính đến tháng 6/2017 chỉ đạt 20,6% (tương đương 10,98 triệu người trên tổng số 53,33 triệu lao động). Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2017 đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,39/10 điểm, thấp hơn đáng kể so với Malaysia (5,59 điểm) và Thái Lan (4,94 điểm).

Thứ ba, cơ chế hỗ trợ tín dụng và bảo lãnh vốn cho doanh nghiệp còn nhiều bất cập, rủi ro cao. Tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ chiếm từ 22% đến 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế giai đoạn 2012-2017. Hoạt động bảo lãnh tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ghi nhận 74 doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, khiến ngân hàng phải chi trả nợ thay 985,85 tỷ đồng và còn tồn đọng 709,71 tỷ đồng nợ khó đòi tính đến tháng 6/2017.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa Luật Đầu tư năm 2014 với các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Khoa học và Công nghệ, cùng quy trình thủ tục hành chính phức tạp. Tiêu chí xét duyệt hỗ trợ tín dụng vẫn đặt nặng điều kiện tài sản bảo đảm thay vì đánh giá tính khả thi của phương án kinh doanh.

So với các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem hỗ trợ đầu tư là một nhánh phụ của ưu đãi đầu tư hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ quản lý nhà nước, luận văn đã chứng minh hỗ trợ đầu tư là công cụ pháp lý độc lập, mang tính chất kiến tạo và bù đắp rủi ro thị trường. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư chung không tạo ra sự phân biệt đối xử và hoàn toàn tương thích với nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) cũng như các quy định của Hiệp định SCM trong khuôn khổ WTO.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan giữa tỷ lệ giải ngân hạ tầng kỹ thuật (đạt 41,5% tại khu công nghiệp và 52,4% tại khu kinh tế) với mức độ hoàn thiện các công trình tiện ích xã hội. Các dữ liệu này hoàn toàn có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột so sánh tiến độ thực hiện vốn và bảng ma trận đối chiếu 7 hình thức hỗ trợ đầu tư theo từng địa bàn kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về hỗ trợ tín dụng và cơ chế bảo lãnh vay vốn. Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi Nghị định 32/2017/NĐ-CP và Nghị định 39/2018/NĐ-CP trong giai đoạn 2019-2021, nới lỏng điều kiện thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ và tài sản hình thành trong tương lai. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ tín dụng từ mức 30% lên 50% vào năm 2025.

Thứ hai, tái cơ cấu nguồn vốn và phương thức hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu kinh tế. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tiêu chí định mức phân bổ ngân sách minh bạch theo lộ trình 2020-2023. Mục tiêu đưa tỷ lệ hoàn thành vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế từ 52,4% lên 75%, ưu tiên hoàn thiện đồng bộ 100% hệ thống xử lý nước thải và nhà ở công nhân.

Thứ ba, đổi mới toàn diện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề theo nhu cầu đặt hàng của doanh nghiệp. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nâng định mức hỗ trợ đào tạo trực tiếp tại cơ sở sản xuất theo Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 20,6% lên 35% trong giai đoạn 5 năm tiếp theo, thu hẹp khoảng cách chất lượng nhân lực với các nước ASEAN.

Thứ tư, thiết lập cổng thông tin điện tử quốc gia hỗ trợ tiếp cận mặt bằng và chuyển giao công nghệ. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Khoa học và Công nghệ công khai 100% quy hoạch quỹ đất công nghiệp sạch và cơ sở dữ liệu công nghệ, cắt giảm 40% thời gian thẩm định hồ sơ hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội đô từ năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội). Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và hệ thống giải pháp sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư, hoàn thiện các nghị định hướng dẫn về cơ chế hỗ trợ sau đầu tư.

Nhóm 2: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhóm đối tượng này có thể nắm bắt chính xác 7 hình thức hỗ trợ đầu tư hợp pháp, quy trình tiếp cận trần lãi suất ưu đãi 6,5%/năm và chính sách tài trợ hạ tầng nhằm tối ưu chi phí dự án.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Thương mại quốc tế. Công trình là tài liệu học thuật giá trị cao giúp phân biệt rành mạch các khái niệm hỗ trợ đầu tư, ưu đãi đầu tư và trợ cấp thương mại theo chuẩn mực WTO.

Nhóm 4: Các tổ chức tín dụng, Quỹ đầu tư phát triển địa phương, Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp. Luận văn cung cấp bài học thực tiễn từ 1.478 chứng thư bảo lãnh đã thanh lý và 709,71 tỷ đồng dư nợ tồn đọng để nâng cao năng lực thẩm định rủi ro khoản vay.

Câu hỏi thường gặp

Hỗ trợ đầu tư khác với ưu đãi đầu tư như thế nào theo Luật Đầu tư năm 2014? Ưu đãi đầu tư là quyền lợi tài chính đặc thù (miễn giảm thuế, tiền thuê đất) chỉ dành riêng cho các dự án thỏa mãn điều kiện nhất định bằng nguồn ngân sách nhà nước. Ngược lại, hỗ trợ đầu tư nhằm tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, công nghệ, hạ tầng cho mọi nhà đầu tư và huy động đa dạng các nguồn lực xã hội hóa.

Mức trần lãi suất hỗ trợ tín dụng ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên được quy định ra sao? Theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước áp dụng từ ngày 10/7/2017, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với các lĩnh vực khuyến khích đầu tư là 6,5%/năm tại các ngân hàng thương mại và 7,5%/năm tại Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận những chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nào? Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50% chi phí khóa đào tạo khởi sự và quản trị doanh nghiệp, hỗ trợ 100% đối với học viên tại địa bàn khó khăn hoặc doanh nghiệp do nữ làm chủ, đồng thời miễn 100% chi phí đào tạo nghề sơ cấp dưới 3 tháng.

Cơ chế giải ngân vốn hỗ trợ xây dựng hạ tầng cho dự án nông nghiệp được thực hiện thế nào? Theo Nghị định 210/2013/NĐ-CP, Nhà nước áp dụng phương thức hỗ trợ sau đầu tư. Ngân sách sẽ giải ngân trước 70% mức vốn hỗ trợ khi hạng mục hoặc gói thầu xây lắp của dự án hoàn thành, và giải ngân 30% còn lại ngay sau khi toàn bộ dự án hoàn thành và được nghiệm thu.

Thực trạng xử lý nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam diễn ra ra sao? Tính đến tháng 6/2017, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã thanh lý 1.478 chứng thư bảo lãnh với giá trị 9.624 tỷ đồng. Do 74 doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, ngân hàng đã trả nợ thay 985,85 tỷ đồng, thu hồi được 276,14 tỷ đồng và còn tồn đọng 709,71 tỷ đồng.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống lý luận về hỗ trợ đầu tư, khẳng định đây là công cụ pháp lý trọng yếu giúp giảm rào cản gia nhập thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
  • Hệ thống hóa toàn diện 7 hình thức hỗ trợ đầu tư theo Điều 19 Luật Đầu tư năm 2014 và đối chiếu với các cam kết thương mại quốc tế của WTO.
  • Chỉ rõ thực trạng giải ngân hạ tầng khu công nghiệp đạt 132 nghìn tỷ đồng (41,5%) và khu kinh tế đạt 155 nghìn tỷ đồng (52,4%), cùng những rào cản khiến tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 20,6% và chỉ 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được tín dụng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện pháp luật về tín dụng, hạ tầng, đào tạo nhân lực và mặt bằng sản xuất.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo khoa học, có giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho các cơ quan hoạch định chính sách, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.

Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay các khuyến nghị của luận văn vào quá trình rà soát, sửa đổi khung pháp lý đầu tư kinh doanh nhằm tối ưu hóa môi trường đầu tư tại Việt Nam.