CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cở sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Thụ tinh tự nhiên Sự thụ tinh là hiện tượng kết hợp giữa tinh trùng và noãn để tạo thành hợp tử có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội. Trong invivo, quá trình thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài của vòi trứng. Sự thụ tinh diễn ra bên trong ống sinh dục nữ phụ thuộc vào hai cấu trúc: cực đầu của tinh trùng và màng trong suốt của noãn.
Ba sự kiện chính liên quan đến sự tương tác của tinh trùng và noãn gồm: 1) tinh trùng gắn vào màng trong suốt; 2) tinh trùng xảy ra phản ứng cực đầu, phóng thích các enzyme phân hủy và lộ ra màng cực đầu bên trong; 3) màng tinh trùng tương tác với màng bào tương của noãn và hai màng hòa vào nhau [49]. Để phát triển đầy đủ các đặc điểm cần thiết cho quá trình thụ tinh, sau khi xuất tinh tinh trùng cần di chuyển đến hệ thống ống sinh dục nữ để trải qua các biến đổi về phân tử, sinh hóa và sinh lý [38]. Các thay đổi được khởi phát bởi các tín hiệu từ môi trường, sự tương tác của tinh trùng với noãn và các yếu tố ngoại bào. Sự biến đổi của tinh trùng bao gồm biến đổi trong độ di động, hoạt hóa, phản ứng cực đầu, sự xâm nhập vào màng trong suốt, gắn kết với noãn và sự hòa màng.
Ở người, sự thụ tinh có thể chia làm 6 giai đoạn: - Tiếp xúc giữa tinh trùng và màng trong suốt - Phản ứng cực đầu - Xâm nhập qua màng trong suốt - Hòa màng bào tương của noãn - Hoạt hóa noãn - Sự hình thành và hòa nhập ở hai tiền nhân 1. Tiếp xúc màng trong suốt Sự gắn sơ cấp đầu là tương tác vật lý đầu tiên của các giao tử liên quan đến nhận diện đặc trưng loài của cấu trúc và phân tử. Theo nguyên tắc, một phân tử Luan van 5 trên tinh trùng sẽ nhận diện và gắn với phân tử bổ sung trên vỏ của noãn. Cấu trúc chính liên quan đến sự gắn kết giữa các giao tử tương tự ở tinh trùng của các loài khác nhưng có sự khác biệt ở noãn.
Cơ chế nhận diện giao tử ở động vật có vú dựa trên tương tác protein – carbohydrate giữa tinh trùng và noãn. Màng trong suốt (ZP – Zona pellucida) được cấu tạo chủ yếu bởi các glycoprotein, đây là một cấu trúc đàn hồi được hình thành bởi mạng lưới sợi và tơ trong đó bao gồm 4 lớp glycoprotein là ZP1, ZP2, ZP3 và ZP4. ZP3 chính là nơi tinh trùng sẽ gắn kết và có nhiệm vụ khởi phát phản ứng cực đầu [25], [24], [58]. ZP1, ZP3, ZP4 có vai trò hoạt hóa tinh trùng và khởi phát phản ứng cực đầu.
Sau khi xảy ra phản ứng cực đầu, ZP2 sẽ thay thế ZP3 tiếp tục giữ cho tinh trùng gắn kết vào, để từ đó tinh trùng dễ dàng chui qua màng trong suốt để vào khoang quanh noãn. Trong khi đó, ZP1 chủ yếu là cầu nối để kết nối ZP2 và ZP3 với nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc và gắn kết với ZP3 của tinh trùng có tính đặc hiệu loài, nghĩa là chỉ có tinh trùng và màng trong suốt của noãn cùng loài mới gắn kết được với nhau [43]. Như vậy, chức năng đầu tiên rất quan trọng của màng trong suốt, đó là thực hiện vai trò như một rào cản hữu hiệu ngăn chặn hiện tượng đa thụ tinh.
Phản ứng cực đầu Thể cực đầu (acrosome) nằm ở phần đầu của tinh trùng, chiếm 1/2 đến 2/3 thể tích đầu tinh trùng. Thể cực đầu tương đối rộng, có nguồn gốc từ thể golgi và là một tiểu thể giống lysosome. Đây là nơi chưa những enzyme quan trọng giúp cho tinh trùng có hể tiêu hủy và xuyên qua màng trong suốt để vào noãn. Thể cực đầu có 2 lớp màng, màng ngoài nằm ngoài ngay dưới màng bào tương và màng trong áp sát vào màng nhân tinh trùng, nơi chứa thông tin di truyền.
Luan van 6 Khi tinh trùng vừa gắn với ZP3, phản ứng cực đầu sẽ xảy ra. Đây là một phản ứng quan trọng cần thiết cho sự thụ tinh của tinh trùng vì chỉ những tinh trùng nào đã xảy ra phản ứng cực đầu mới có thể xâm nhập qua màng trong suốt và hòa nhập với màng bào tương noãn. Tuy nhiên, để phản ứng cực đầu có thể xảy ra, tinh trùng cần trải qua quá trình hoạt hóa trước đó. Đây là quá trình nhằm làm thay đổi cấu trúc và tính bền vững của tế bào tinh trùng và là tiền đề cho phản ứng cực đầu xảy ra.
Trong in-vitro, hoạt hóa có thể xảy ra trong quá trình chuẩn bị tinh trùng. Khi phản ứng cực đầu được khởi phát, màng ngoài của cực đầu sẽ hòa với bào tương của tinh trùng, giúp giải phóng các enzyme bên trong cực đầu. Trong số đó quan trọng nhất là hyaluronidase và acrosin. Acrosin được dự trữ dưới dạng tiền enzyme là pro-acrosin được chuyển hóa sang dạng hoạt động khi được phóng thích nhờ phản ứng cực đầu.
Cả hai enzyme này đều đóng vai trò quan trọng trong sự xâm nhập của tinh trùng vào lớp vỏ quanh noãn, nhưng cơ chế thực sự mà chúng đóng góp vào việc này chưa được xác định rõ, bởi lẽ mạng lưới của tế bào hạt chủ yếu chứa carbonhydrate hơn là acid hyaluronic, và các enzyme khác khác của cực đầu như aryl sulphatase có thể cũng có vai trò kết hợp giúp tinh trùng xâm nhập vào noãn. Vì vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định vai trò của các enzyme được phóng thích trong phản ứng cực đầu. Phản ứng cực đầu [16] Luan van 7 Phản ứng cực đầu xảy ra với sự tham gia của ba thành phần chính là calcium ion (Ca2+), sự hoạt hóa phospholipase và enzyme protein kinase [45]. ZP3 ban đầu sẽ kích hoạt tyrosine kinase (dẫn đến sự gia tăng phosphoryl hóa protein tyrosine) và sự tự phosphoryl hóa cụ thể G-protein dẫn truyền tính hiệu tương tác với các enzyme gắn kết màng như phospholipase C và adenylate cylase.
Sự hoạt hóa hai enzyme dẫn đến sự gia tăng tín hiệu truyền tin thứ hai là cAMP, inositol triphosphate (IP3) và diacylglycerol. Hậu quả của sự gia tăng tín hiệu truyền thứ hai là sự hoạt hóa protein kinase như cAMP-dependent kinase và Ca2+ phospholipid dependent kinase với sự phosphoryl hóa protein. IP3 có thể làm tăng nồng độ Ca2+ nội bào bằng cách phóng thích các Ca2+ từ nguồn dự trữ Ca2+ nội bào. Sự gia tăng Ca2+ nội bào là hậu quả của sự kích thích thụ thể ZP3 do dòng nhập vào từ môi trường ngoài, phụ thuộc và sự hoạt hóa protein G, qua kênh Ca2+ và kèm theo sự xâm nhập của ion hydro dẫn đến sự gia tăng pH nội bào.
Sự gia tăng nồng độ Ca2+ cùng với nồng độ pH nội bào dẫn đến phản ứng cực đầu. Người ta thấy rằng phản ứng cực đầu xảy ra trong suốt thời gian nồng độ Ca2+ tăng. Xuyên màng trong suốt Sau khi phản ứng cực đầu xảy ra, tinh trùng vẫn gắn với màng trong suốt tại vị trí ZP2, tiếp theo tinh trùng sẽ phải xuyên qua màng trong suốt để đến và hòa màng với màng bào tương noãn. Sự xâm nhập qua màng trong suốt xảy ra sau khi tinh trùng trải qua hiện tượng tăng động và ly giải bằng enzyme.
Hoạt động ly giải bằng enzyme được thực hiện bởi một enzyme protease của thể cực đầu gọi là acrosin. Nơi gắn kết của tinh trùng với ZP2 được cho là có vai trò tạo ra một vị thế chắc chắn để tại đó tinh trùng chui qua màng trong suốt bằng một đường hẹp tạo với bề mặt màng một góc 45 độ nhưng đôi khi cũng có thể xuyên vuông góc hoặc song song với bề mặt màng. Sự hòa nhập tinh trùng và noãn Quá trình hòa màng giữa các giao tử phụ thuộc vào nhiệt độ, pH và Ca2+. Sự dung hợp xảy ra do dự hỗ trợ của các protein màng.
Trong quá trình xâm nhập Luan van 8 vào màng trong suốt, tinh trùng mất dần cực đầu và chỉ màng cực đầu bên trong là trực tiếp tương tác với màng trong suốt [9]. Bề mặt của màng noãn được cấu tạo bởi các vi lông mao ngắn, có khoảng cách đều nhau tạo thuận lợi cho sự dung hợp ở người, vi lông mao hiện diện trên toàn bộ bề mặt noãn và không phân cực ở giai đoạn này. Màng bào tương tinh trùng còn lại hòa với màng bào tương noãn và đánh dấu điểm xâm nhập. Tinh trùng thụ tinh tiếp tục di chuyển một đoạn khoảng 20 giây sau khi gắn vào bề mặt noãn [9].
Hoạt hóa noãn Sự trưởng thành tế bào chất: để có thể thụ tinh thành công va phát triển phôi ở giai đoạn sớm, noãn cần trưởng thành tế bào chất. Quá trình này song song diễn ra với quá trình hoạt hóa tinh trùng gồm [9]: - Nhân tố điều chỉnh pha M ( M – phase promoting factor – MPF) được biểu hiện ở mức độ cao. - Tăng nồng độ các nhân tố hiện diện trong noãn như c-mos, mitogen activate protein kinase (MAPK) và hoạt động của p34cdc2. - Trục xuất thể cực thứ nhất.
- Hầu hết quá trình phiên mã kết thúc trước GVBD và chuyển sang dự trữ mRNA (Messenger Ribonucleic acid). Các nhân tố hoạt hóa noãn: Trong quá trình thụ tinh, sự xâm nhập tinh trùng vào noãn ngoài việc cung cấp các thành phần di truyền, còn gây một loạt các phản ứng sinh lý giúp noãn tiếp tục hoàn tất quá trình giảm phân và chuẩn bị cho quá trình hình thành phôi sau đó. Hiện tượng này gọi là hoạt hóa noãn. Sự kiện đầu tiên của quá trình hoạt hóa noãn là sự tăng các ion xuyên màng bào tương.
Ở người, tinh trùng tạo ra một dòng điện bên ngoài bằng cách hoạt hóa kênh K+ được điều khiển qua cổng Ca2+. Luan van 9 Hình 1. Quá trình hoạt hóa noãn của tinh trùng [22] Có ba giả thuyết cho sự hoạt hóa noãn, trong đó giả thuyết dựa trên sự khuếch tán các phân tử hiện diện trong bào tương tinh trùng được ủng hộ hơn cả. Các phân tử này sẽ được chuyển vào bào tương noãn khi dung hợp và kích hoạt các sự kiện hoạt hóa [11].
Giả thuyết trên được gọi là mô hình yếu tố hòa tan. Đóng vai trò trung tâm trong sự huy động và phóng thích Ca2+ của sự thụ tinh là phosphatidylinositol (4,5)-bisphosphate (PIP2). Sự gia tăng Ca2+ nội bào tự do gần như là tín hiệu kích hoạt chuỗi các sự kiện dẫn đến sự hoạt hóa noãn. Kết quả của quá trình hoạt hóa noãn là noãn vượt qua được giai đoạn block và phản ứng vỏ xảy ra.
Khi vừa xảy ra hiện tượng phóng noãn, noãn vẫn còn đang ở giai đoạn trung kì của giảm phân II.