CHƯƠNG I: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TE CUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Mặc dù hoạt động KDNT hiện nay với các nghiệp vụ thực hiện còn khá đơn giản, tuy vậy hoạt động nay dang trở nên ngay cảng thu hút sự quan tâm và chú ý từ các NHTM bởi hiệu qua mà hoạt động nay mang lai có thé tác động khá lớn đến các ngân hàng. Hoạt động KDNT tại BIDV trong thời gian qua từ những bước khởi đầu bỡ ngỡ, dần dần đã có những dấu hiệu tích cực và đem lại kết quả kinh tế. Tuy nhiên, các nghiệp vụ KDNT van còn chưa phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của ngân hàng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt về lĩnh vực ngân hàng hiện đại. Vì vậy, nghiên cứu hiệu quả hoạt động KDNT có ý nghĩa không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp thích hợp để làm rõ đặc điểm của hoạt động KDNT và các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, đồng thời phân tích các nhân tô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động KDNT. Tổng quan tình hình nghiên cứu Những năm gan đây, dé tài hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã có nhiều nghiên cứu dưới dạng những tham luận, luận văn thạc sỹ, các nghiên cứu, bai báo đăng trên các tạp chí uy tín trong nước. Một số nghiên cứu, bài viết có giá tri cao về hoạt động kinh doanh ngoại tệ như: e Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tai Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Trần Huyền Trâm (2011): Đề tài đi sâu nghiên cứu về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM nói chung và của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nói riêng, các nghiệp vụ của nó và ảnh hưởng của hoạt động này tới các hoạt động cho vay ngoại tệ, thanh toán quốc tế. từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT.
e Luan văn thạc sỹ “Phat triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng” của tác giả Nguyễn Thị Tươi (2014): Đề tài làm rõ khái niệm đặc điểm và nội dung của hoạt động KDNT và các tiêu chí đánh giá phát triển hoạt động KDNT của NHTM, phân tích, đánh gia sự phát triển KDNT của Ngân hàng VPBank trong thời gian qua, trong đó đặc biệt nhân mạnh những bat cập và nguyên nhân của những bất cập. Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động KDNT của VPBank nhăm đáp ứng yêu cầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. e Luận văn thạc sỹ “Các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” của tác giả Trần Thanh Hà (2005) trên cơ sở nhận thức lý luận, qua thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại hồi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam dé đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tế hoạt động và đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm góp phần vào công cuộc phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối. e© Luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khau Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồ (2008) đã phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Việt Nam Eximbank.
Nhận ra nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Từ đó dé ra biện pháp nhằm giúp phòng kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Việt Nam Eximbank kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn và giữ vững vị thế đứng đầu trong khối ngân hàng thương mại cô phần về lĩnh lực kinh doanh ngoại hồi. e Luận văn thạc sỹ kinh tế “ Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011) đã nêu được các giải pháp dé nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV có thé ké đến là: Hoàn thiện va phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, trong đó cần tập trung marketing, giới thiệu khách hàng sử dụng các sản phẩm ngoại hối phái sinh tại ngân hàng; mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường ngoại hôi liên ngân hàng và thị trường quôc tê; nâng cao chât lượng nguôn nhân lực. Ngoài ra luận văn này cũng đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN và các doanh nghiệp XNK nhằm mở rộng môi trường kinh doanh và tiềm năng hoạt động KDNT cho các NHTM nói chung và BIDV nói riêng.
e Đặc biệt là luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Công Giảng (2007) về “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khâu Việt Nam”. Trong luận văn này, tác giả đã nêu được những khái niệm cơ bản về kinh doanh ngoại tệ đồng thời cũng đi sâu phân tích các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ và đưa ra một số giải pháp, tuy nhiên khi phân tích về các đối tượng tham gia vào việc trên thị trường hối đoái thì tác giả đã không đề cập đến các cá nhân mà chỉ đề cập đến các tô chức tài chính: Ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, các công ty và định chế tài chính phi ngân hàng, các nhà môi giới (broker). Việt Nam là một nước có lực lượng lao động déi dao, gia rẻ, hàng năm Việt Nam thu về hàng tỷ USD kiều hối (Năm 2012 ước tính dat 9,2 đến 9,5 tỷ USD, nguồn cafef.vn), thi các cá nhân cũng là một đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái. Mặt khác, với trình độ phát triển ngày càng nâng cao, các cá nhân đã dần dần có thể trực tiếp tham gia vào kinh doanh ngoại tệ như tham gia kinh doanh ngoại tệ qua mạng như giao dịch Forex.
Như vậy có thê thấy các tác giả nói trên mới chỉ tập trung vào nghiên cứu việc phát triển và mở rộng hoạt động KDNT tại các NHTM mà chưa di sâu vào phân tích các tiêu chí về hiệu quả hoạt động KDNT, đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu nào đồng cấp nghiên cứu hiệu quả hoạt động KDNT tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2014. Một số vấn đề mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến và được giải quyết trong Luận văn: “Hiệu quả hoạt động KDNT tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam ”, đó là: - Cac tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ tại NHTM nói chung va BIDV nói riêng. - _ Pháp lệnh ngoại hối số 06/2013/UBTVQH13 ban hành ngày 18/03/2013 có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động KDNT. - Nghiên cứu hoạt động KDNT liên quan đến thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại, hoạt động tín dụng.
- _ Đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của BIDV giai đoạn từ 2010 đến 2014. Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những đữ liệu rất quan trọng về hoạt động KDNT. Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn nay. Tôi hy vọng với những kiến nghị được đề cập trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong thời gian tới.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại 1. Sự ra đời của nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ Sản xuất hàng hóa ngày càng phát trién, nhu cầu trao đổi hang hóa ngày càng cao, việc trao đổi hàng hóa đã diễn ra khỏi biên giới quốc gia. Trao đổi mua bán hàng hóa giữa các quốc gia với nhau đòi hỏi việc thanh toán giữa các cá nhân, tô chức của một quốc gia này với một quốc gia khác, nghĩa là phát sinh ra việc trao đôi mua bán đồng tiền giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có đồng tiền của riêng mình thê hiện sức mạnh và khả năng tài chính của mỗi quốc gia.
Khả năng về tài chính của mỗi một quốc gia thể hiện thông qua sức mạnh của đồng tiền mà quốc gia đó sử dụng. Sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế, trong xu hướng toàn cầu hóa với những chính sách mở cửa thu hút đầu tư dựa trên những lợi thế so sánh về tỷ lệ lợi tức kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của dau tư quốc tế. Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế, biểu hiện của một nền kinh tế mở là hai nhân tố chính tạo điều kiện cho kinh doanh ngoại tệ ra đời và phát triển. Tại Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập trong khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối sửa đổi, bé sung ngày 18 tháng 03 năm 2013 của Ủy ban thường vụ quôc hội: Ngoại hôi bao gôm: - Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
- Phương tiện thanh toán bang ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hồi phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác. - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. - Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dang khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thô Việt Nam. - Đồng tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hop chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thé Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn dé chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuan quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tỆ.