Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án Chương 2: Nội dung đề án Chương 3: Kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn Trầm Thị Xuân Hương (2013) viết rằng “Huy động vốn là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, qua việc Ngân hàng nhận ủy thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tác có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng”. Theo luật ngân hàng thương mại của Lào số 56/QH, ban hành 7/12/2018, điều 33 đã quy định rằng: huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng trong nhiều nghiệp vụ của ngân hàng, thông qua nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp nguồn vốn quan trọng và cho phép ngân hàng thược hiện nghiệp vụ tín dụng.
Huy động vốn của ngân hàng có thể thông qua nhiều kênh: nhận tiền gửi từ cá nhân và pháp nhân hoặc ngân hàng có thể huy động vốn thông qua kênh vay vốn hay phát hành cổ phiếu trong nước và nước ngoài theo luận pháp cho phép. Tóm lại, HĐV là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn nên đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. NHTM mua quyền sử dụng các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của khách hàng trong một thời gian nhất định với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và chi phí phải trả cho khách hàng dưới hình thức lãi tiền gửi. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.
Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do bản thân NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Các nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và nguồn vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
6 Vốn chủ sở hữu Trầm Thị Xuân Hương (2013) viết rằng “Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, do chủ sở hữu của Ngân hàng góp vào khi thành lập Ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động của Ngân hàng từ vốn góp thêm của chủ sơ hữu và từ lợi nhuận của Ngân hàng”. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NMTM những đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh của NHTM. Vốn chủ sở hữu là loại vốn Ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên vốn chủ sở hữu là nguồn vốn có tính ổn định và thông thường được sử dụng cho mục đích dài hạn. Vốn huy động Trầm Thị Xuân Hương (2013) viết rằng “Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được Ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu”.
VHĐ của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận tiền gửi KKH, tiền gửi CKH thông qua các hình thức như thẻ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ nợ khác. VHĐ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên, khi đến hạn Ngân hàng phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả gốc và lãi nên VHĐ là thành phần vốn có tính biến động. Khi sử dụng nguồn vốn này NHTM phải thiết lập dự trữ để đáp ứng Kíp thời nhu cầu thanh khoản.
Vốn đi vay Trầm Thị Xuân Hương (2013) viết rằng “Vốn đi vay là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế mà NHTM chủ động thỏa thuận sử dụng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh. NHTM có thể vay từ nhiều chủ thể khác nhau như: Vay từ các TCTD khác trong nước, vay từ các Ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài, vay từ NHTW”. Nguồn vốn khác Ngoài các hình thức HĐV trên thì Ngân hàng có thể huy động từ: + Vốn trong thanh toán: Là nguồn vốn mà Ngân hàng tạo lập được trong quá trình làm trung gian thanh toán. 7 + Vốn tiếp nhận: Là số vốn NHTM tiếp nhận từ Ngân hàng nhà nước do tài trợ, uỷ thác đầu tư, làm đại lý, để cấp phát và cho vay các công trình tập trung trọng điểm của Nhà nước.
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Có nhiều hình thức HĐV tùy theo cách phân loại, cụ thể như sau: Theo thời gian huy động Huy động vốn ngắn hạn Các khoản huy động có thời gian dưới 12 tháng được gọi là các khoản huy động ngắn hạn. Tùy theo chiến lược phát triển cũng như mức độ đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi của các NHTM mà có thể chia nhỏ thành các kỳ hạn theo tuần, tháng, quý. Huy động vốn trung và dài hạn Ngược với huy động ngắn hạn, các khoản huy động có thời gian dài trên 12 tháng được gọi là các khoản huy động TDH. Do kỳ hạn dài nên lãi suất chi trả cho nguồn tiền này thườg cao, đồng thời cũng chiếm tỷ trọng thấp hơn so với nguồn ngắn hạn trong tổng nguồn VHĐ.
Theo loại tiền huy động NHTM căn cứ vào tính thanh khoản, mức độ ưa thích, nhu cầu dự trữ, đầu tư của người dân để quyết định phương thức huy động bằng nội tệ hoặc là ngoại tệ (thường là ngoại tệ mạnh như USD, EUR. Huy động bằng nội tệ Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng, thanh toán trong nước nên khách hàng thường gửi tiền bằng đồng nội tệ. Nguồn vốn này thường chiếm phần lớn trong nguồn VHĐ và có lãi suất cao hơn. Huy động bằng ngoại tệ Từ nhu cầu đầu tư, cất trữ bằng các ngoại tệ mạnh của khách hàng, hay nhu cầu thanh toán trong xuất nhập khẩu hàng hóa đã làm nên nguồn VHĐ bằng ngoại tệ trong Ngân hàng.
Do sự biến động về tỷ giá nên lãi suất huy động của loại này thường thấp hơn so với huy động bằng nội tệ. Phân loại theo đối tượng huy động Huy động từ tiền gửi của các TCKT 8 Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TCKT thường có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: Khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng; Tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương; Các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến… Để đảm bảo an toàn nguồn vốn mà tài sản vẫn sinh lời, các TCKT có thể gửi số vốn đó vào Ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho việc SDV, đơn vị có thể thanh toán qua Ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ Ngân hàng khác. Tiền gửi của các TCKT bao gồm: Tiền gửi KKH và Tiền gửi CKH.
Huy động từ tiền gửi của dân cư Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Loại tiền này bao gồm: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Huy động từ các định chế tài chính khác NHTM có thể HĐV từ các định chế tài chính khác bao gồm: - Huy động vốn của tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các Ngân hàng vay lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường liên Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu dự trữ, chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp có thể bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượng từ NHTW. - Vay của Ngân hàng Trung ương (NHTW): NHTW là Ngân hàng thực hiện cho vay cuối cùng trong nền kinh tế.
Vì vậy các NHTM chỉ được vay của NHTW khi cần thiết, hoặc khi cần bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong trường hợp đặc biệt, khi được thủ tướng Chính phủ chấp thuận, NHTW còn cho vay đối với các NHTM tạm thời bị mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất an toàn cho hệ thống. Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá Trái phiếu Ngân hàng Ngân hàng phát hành trái phiếu này nhằm HĐV trung và dài hạn, việc phát hành trái phiếu của NHTM chịu sự quản lý của NHNN, của các cơ quan quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của Ngân hàng. Kỳ phiếu Ngân hàng Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn (trong một năm).
Được sử dụng cho mục đích HĐV ngắn hạn của Ngân hàng. Phát hành chứng chỉ tiền gửi 9 Người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ hạn và nhận đủ vốn khi đến hạn. Với việc phát hành các giấy tờ có giá để HĐV, Ngân hàng có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng. Huy động vốn bằng các hình thức nhận ủy thác Đối với một NHTM, ngoài việc có thể nhận được vốn ủy thác đầu tư của Nhà nước và các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế theo các chương trình, dự án có mục tiêu cụ thể.
Để được nhận nguồn vốn này, các Ngân hàng phải lập dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay. Sử dụng số dư trên tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch giữa thu hộ và chi hộ… 1. Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại Đối với nền kinh tế Các doanh nghiệp để tồn tại được trên thương trường phải không ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm…Vấn đề này thực hiện được khi và chỉ khi doanh nghiệp huy động được đủ lượng vốn cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích.