Chương 1 đã trình bày khái uát về nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của đề tài. Với cấu trúc luận văn gồm năm chương, những nội dung chi tiết sẽ được trình bày cụ thể ở các chương au. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG, HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2.1 Định nghĩa hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Hiệu uả là một thuật ngữ được ử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất khi đề cập đến vấn đề hiệu uả.
Hiệu uả hoạt động được phân loại thành hai nhóm ch nh là hiệu uả hoạt động tuyệt đối và hiệu uả hoạt động tương đối. Hiệu uả hoạt động tuyệt đối được thể hiện bằng doanh thu, lợi nhuận, uy mô của tổ chức. Hiệu uả hoạt động tương đối được thể hiện ua các tỷ lệ doanh thu / chi ph , đầu ra / đầu vào. Hiệu uả hoạt động tuyệt đối thì khó để o ánh các tổ chức với nhau.
Chẳng hạn, một ngân hàng có uy mô tài ản ẽ tạo ra con ố lợi nhuận lớn hơn các ngân hàng có uy mô tài ản nhỏ hơn thì không thể đánh giá ngân hàng tạo được lợi nhuận nhiều hơn là hoạt động hiệu uả hơn. Theo arr ll (195 ) thì hiệu uả thể hiện ua mối tương uan giữa các biến ố đầu ra thu được o với các biến ố đầu vào đã ử dụng để tạo ra nó. Th o B rg r và M t r (199 ) x m hiệu uả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thể hiện ở mối uan hệ giữa chi ph ử dụng các nguồn lực đầu vào và doanh thu đầu ra. Theo raft (2008) thì hiệu uả hoạt động kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các nguồn lực đầu vào có t nh chất khan hiếm thành khả năng inh lời hoặc giảm thiểu chi ph o với các đối thủ cạnh tranh.
Vậy hiệu uả là khi các doanh nghiệp ử dụng, phân bổ các yếu tố đầu vào để ản xuất các ản phẩm đầu ra nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Th o định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế học của Nguyễn Văn Ngọc (2012) thì hiệu uả trong kinh tế là mối tương uan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với 6 đầu ra là hàng hóa và dịch vụ. Th o Nguyễn hắc Minh (2004) thì hiệu uả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện mối tương uan giữa các nhân tố đầu vào hữu hạn và ản lượng dịch vụ, hàng hóa đầu ra đạt được. Các uan điểm trên đều thể hiện rằng hiệu uả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và ử dụng các nguồn lực của uá trình ản xuất kinh doanh (các yếu tố ản xuất như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,.) nhằm đạt kết uả cao nhất với chi ph thấp nhất.
Nó phản ánh những lợi ch đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ ở o ánh lợi ch thu được (doanh thu, lợi nhuận,.) o với chi ph bỏ ra trong uốt uá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Th o arr ll (195 ), hiệu uả kinh tế (Economic ffici ncy) hay hiệu uả chi phí (Cost efficiency - CE) gồm hai thành phần như au: Hiệu uả kỹ thuật (T chnical ffici ncy - TE): phản ánh khả năng doanh nghiệp tối đa hàng hóa đầu ra với các đầu vào cho trước (hoặc ử dụng tối thiểu đầu vào để đạt được các đầu ra cho trước). Hiệu uả phân bổ (Allocativ ffici ncy - AE): phản ánh khả năng đơn vị ản xuất ử dụng đầu vào th o tỷ lệ tối ưu với mức giá tương ứng của chúng đã biết. Trong đó, th o Banker, Charnes và Cooper (1984) phân chia hiệu uả kỹ thuật thành hai thành phần: + Hiệu uả kỹ thuật thuần túy (Pur t chnical ffici ncy - PE): phản ánh hiệu uả kỹ thuật thuần của doanh nghiệp xuất phát từ yếu tố kỹ thuật như trình độ năng lực uản lý, điều hành của nhà uản trị, chất lượng kiểm oát nội bộ, uản trị rủi ro, chiến lược kinh doanh,.
+ Hiệu uả uy mô (Scal ffici ncy - SE): phản ánh khả năng doanh nghiệp đang hoạt động ở uy mô có tối ưu hay không, phản ánh t nh hiệu uả của uy mô 7 hoạt động (trình độ công nghệ, vốn,. hông phải doanh nghiệp nào cũng hoạt hoạt động với uy mô tối ưu do nhiều lý do như hạn chế về vốn, ch nh ách,. T nh kinh tế th o uy mô thể hiện một ự tăng lên trong ản lượng ản phẩm ẽ làm giảm chi ph bình uân trên mỗi ản phẩm ản xuất ra, trong khi t nh phi kinh tế th o uy mô thì ngược lại. o đó, uy mô tối ưu tồn tại ở điểm ản lượng mà tại đó chi ph bình uân trên mỗi ản phẩm là thấp nhất.
Như vậy, hiệu uả uy mô cho biết khả năng của ban uản trị chọn lựa uy mô tối ưu của các nguồn lực để xác định quy mô của doanh nghiệp. Một uy mô không phù hợp ( uá lớn hay uá nhỏ) có thể dẫn đến t nh phi hiệu uả kỹ thuật. + Việc phân tách hiệu uả kỹ thuật thành hai thành phần như trên giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân gây ra tình trạng phi hiệu uả. Phi hiệu uả có thể từ phi hiệu uả kỹ thuật thuần hoặc phi hiệu uả uy mô để từ đó có những giải pháp phù hợp.
hi hiệu uả kỹ thuật thuần nhỏ hơn 100% chứng tỏ có tồn tại phi hiệu uả kỹ thuật thuần, để nâng cao hiệu uả hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao năng lực uản trị, điều hành, nâng cao năng lực uản trị rủi ro,. Nếu hiệu uả uy mô đạt 100% có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động với uy mô tối ưu và do đó tăng hay giảm uy mô ản xuất không làm tăng hiệu uả hoạt động kinh doanh. Nếu hiệu uả th o uy mô nhỏ hơn 100% chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt động với uy mô không tối ưu và tồn tại phi hiệu uả uy mô. Phi hiệu uả uy mô có thể là điều kiện ản lượng tăng th o uy mô (I S) hoặc ản lượng giảm th o uy mô ( S).
Điều kiện ản lượng giảm th o uy mô ngụ ý rằng uy mô của ngân hàng uá lớn và ngân hàng có thể cải thiện hiệu uả hoạt động kinh doanh bằng cách giảm uy mô. C n điều kiện tăng th o uy mô cho biết ngân hàng có thể cải thiện hiệu uả hoạt động kinh doanh bằng cách tăng quy mô. Một trong những mục tiêu hướng đến của nhà ản xuất là tối đa hóa đầu ra từ các đầu vào giới hạn hoặc tối thiểu hoá ử dụng đầu vào trong uá trình ản xuất. Trong trường 8 hợp này khái niệm hiệu uả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu uả kỹ thuật (khả năng tối thiểu hoá ử dụng đầu vào để ản xuất đầu ra cho trước, hoặc khả năng tối đa hóa đầu ra từ đầu vào cho trước), và việc tránh lãng ph của nhà ản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu uả kỹ thuật cao.
Ở mức cao hơn, mục tiêu của nhà ản xuất có thể đ i hỏi ản xuất các đầu ra đã cho với chi ph thấp nhất, hoặc ử dụng các đầu vào đã cho sao cho tối đa hoá doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra ao cho tối đa hoá lợi nhuận. Trong các trường hợp này hiệu uả tương ứng được gọi là hiệu uả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào các yếu tố cho phép tối thiểu hóa chi ph để ản xuất ra một mức ản lượng nhất định), và mục tiêu của nhà ản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu uả kinh tế cao (t nh th o các ch tiêu như chi ph , doanh thu hoặc lợi nhuận). Quan điểm về hiệu uả rất đa dạng, tùy th o mục đ ch nghiên cứu mà có thể tiếp cận khái niệm hiệu uả th o những kh a cạnh khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ vấn đề nghiên cứu cũng như từ những hạn chế về thời gian và nguồn ố liệu, do vậy uan điểm về hiệu uả mà luận văn ử dụng để đánh giá hiệu uả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần là dựa trên hiệu uả kinh tế, trong đó tập trung nghiên cứu hiệu uả kỹ thuật của các NHTMCP Việt Nam, nó phản ánh khả năng của một ngân hàng biến các nguồn lực đầu vào (lao động, tài ản cố định, vốn, kỹ thuật,.) thành các đầu ra (cho vay, đầu tư, dịch vụ, thu nhập,.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 2.1 hân t ch các ch ố tài chính Đây là phương pháp thường được ử dụng để đánh giá hiệu uả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hiện nay, có nhiều ch ố tài ch nh được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tương ứng với các mục tiêu đánh giá khác nhau mà ch ố tài ch nh được sử dụng cũng khác nhau. 9 Nhiều tác giả đã ử dụng phương pháp ch số tài ch nh để đánh giá về hoạt động kinh doanh của ngân hàng như Mengistu (2015) sử dụng các ch số: ROA, ROE, NIM, LDR, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí trên doanh thu hoạt động,… Mekonen (2013) sử dụng các ch số ROA, ROE, tỷ số nợ trên tài sản, vòng quay tổng tài sản,. Mustafa (2014) sử dụng các ch số ROA, ROE, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng huy động vốn, tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay/tổng dư nợ cho vay, tỷ lệ nợ xấu, ,… Các ch ố tài ch nh được sử dụng nhiều hầu hết được phân vào ba nhóm ch tiêu: nhóm ch tiêu phản ánh khả năng inh lời, nhóm ch tiêu phản ánh khả năng thanh khoản và nhóm ch tiêu phản ánh rủi ro hoạt động. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản cho thấy tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận mà ngân hàng tạo ra trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.