Chương 1. Lý luận cơ bản về hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 1. Khái niệm thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 1. Chế độ tài sản của vợ chồng 1.
Các loại chế độ tài sản của vợ chồng 1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn 1. Khái niệm hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản cua vợ chồng 1. Điều kiện, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 1.
Vai trò, ý nghĩa của hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 1. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng ở một số nước trên thế giới z12 1. Pháp luật Hoa Kỳ 1. Pháp luật Pháp 1.
Pháp luật Nhật Bản 1. Pháp luật Trung Quốc 1. Pháp luật Úc Chương 2. Pháp luật Việt Nam về hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 2.
Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thời kỳ trước Luật HN&GĐ năm 2014 2. Hiệu lực của hỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật miền Nam trước năm 1975 2. Hiệu lực của hỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm 2000 2. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ trong theo Luật HN&GĐ năm 2014 2.
Việc công nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 2. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 2. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu 2. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng khi huỷ hôn nhân trái pháp luật 2.
Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng khi huỷ hôn nhân trái pháp luật khi vợ, chồng chết 2. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng khi huỷ hôn nhân trái pháp luật khi vợ chồng ly hôn Chương 3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng 3. Thực tiễn áp dụng thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 3.
Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài z13 sản của vợ chồng 3. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng 3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng 3. Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng 3.
Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng 3. Giải pháp nâng cao chất lượng công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng z14 Chƣơng 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 1. Khái niệm thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng 1.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật HN&GĐ. Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng vì thế mà hình thành. Do tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại nên vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản.
Sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc quy định về chế độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật HN&GĐ nước ta ngày càng trở nên bất cập. Một mặt, việc giải quyết các xung đột trên không thể đảm bảo được công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể (người vợ thường thiệt thòi về tài sản sau khi ly hôn). Mặt khác, số lượng và độ phức tạp của các vụ việc liên quan đến tranh chấp tài sản vợ chồng ngày càng gia tăng gây khó khăn và tốn kém cho ngành tư pháp. Trước khi nghiên cứu giải pháp cho tình trạng trên thì việc làm rõ các khái niệm chế độ tài sản vợ chồng và các hình thức là cần thiết.
Cho đến nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng nào được ghi nhận trong một văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong luật như một tất yếu khách quan để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội. z15 Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hệ quả của thỏa thuận giữa hai vợ chồng về lựa chọn chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Pháp luật ở các quốc gia trên thế giới đều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, có thể không giống nhau. Ngay tại một quốc gia, chế độ tài sản của vợ chồng được quy định có thể khác nhau theo từng giai đoạn phát triển. Điều này phụ thuộc vào quan điểm, chính sách pháp luật, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống, tập quán của mỗi nước. Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu của vợ chồng.
Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN&GĐ, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình bằng cách tham gia các giao dịch dân sự. Chế độ tài sản của vợ chồng có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, về mặt chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Vì thế, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật HN&GĐ. Thứ hai, với vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, Nhà nước quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật xuất phát từ mục đích bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có tính đến lợi ích cá nhân của vợ và chồng.
Các quy định này tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng. z16 Thứ ba, chế độ tài sản này có căn cứ xác lập và chấm dứt phụ thuộc vào sự kiện phát sinh và chất dứt của quan hệ hôn nhân. Có thể nói chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Cuối cùng, chế độ tài sản của vợ chồng cũng có những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, bắt buộc khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, vợ chồng phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình. Đối với tài sản riêng (nếu có), nguyên tắc người có tài sản có quyền tự mình định đoạt không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Tuy nhiên, quyền năng này có thể bị hạn chế trong một số trường hợp. Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định trong pháp luật HN&GĐ được nhà nước quy định dựa trên sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội.
Nó thể hiện được tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể. Nhìn vào chế độ tại sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội và ý chí Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó. Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng.
Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản pháp định luôn được pháp luật quy định rõ ràng. Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tào sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những người khác trong thực tế. Điều này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Các loại chế độ tài sản của vợ chồng Tại mỗi quốc gia, các nhà làm luật đều lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với điều kiện kinh tế, truyền thống, tập quán và nguyện vọng của các cặp vợ chồng. Trong đó thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng bởi tổng hợp các quy phạm do nhà nước ban hành điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng phản ánh điều kiện vật chất của xã hội đó, bảo đảm phù hợp với lợi ích, ý chí của giai cấp thống trị xã hội.