Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ GATT/WTO 1994 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GATT GATT là tên viết tắt của tổ chức các quốc gia tham gia ký kết và thực hiện Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (The General Agreement of Tariff and Trade), được hình thành sau khi chiến tranh thế giới lần II (1939 - 1945) kết thúc, trong bối cảnh thế giới bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế và thương mại hàng hóa chiếm lĩnh thế giới. Hiệp định GATT bắt đầu có hiệu lực từ năm 1947 (gọi là GATT 1947), trong đó đưa ra hàng loạt các quy định liên quan đến thương mại quốc tế đòi hỏi các nước ký kết phải tuân thủ. Có thể nói, đây là văn bản có tính pháp quy đầu tiên đặt ra các tiêu chuẩn chung về thương mại mang tính toàn cầu.
Trong điều kiện thương mại quốc tế ngày càng tăng nhanh, một số nước phát triển đã liên kết với nhau để tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa các quy định của GATT nhằm làm tăng năng lực áp dụng và tính hiệu quả của văn bản này. Kết quả là hàng loạt hiệp định cụ thể đã ra đời và giải thích, cụ thể hóa hơn nữa những điều khoản quy định của GATT, là những nội dung vẫn được coi là quá trừu tượng, khó hiểu và khó áp dụng. Năm 1947, dưới sự bảo trợ của Hội quốc liên, nay là Liên Hợp quốc, một Hiệp định chung về thương mại quốc tế, có tên gọi là Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT) đã được ký kết tại Gernever, Thụy Sỹ. Trong Hiệp định này, vấn đề về xác định trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu (gọi tắt là Trị giá Hải quan) đã được quy định trong Điều VII, đưa ra một nguyên tắc chung về xác định Trị giá Hải quan cho tất cả các nước tham gia ký kết.
Song khi áp dụng thực tế, vì Điều VII chỉ đưa ra những nguyên tắc chung mà không có những hướng dẫn cụ thể, nên mỗi nước lại 9 z hiểu và phát triển các nguyên tắc này theo những hướng khác nhau. Hệ thống xác định Trị giá Hải quan chung trên thế giới lại gặp phải những khó khăn mới là tính "thiếu thống nhất" trong phương pháp định giá cụ thể. Đến năm 1951, Định nghĩa Brussels về trị giá hải quan ra đời để giải quyết những khó khăn của Hiệp định 1947. Định nghĩa Brussels quy định trị giá hải quan là giá thông thường của hàng hóa đang xác định trị giá.
Giá thông thường này phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh đầy đủ, và có xét đến thời gian bán hàng, địa điểm bán hàng và số lượng, cấp độ thương mại của giao dịch bán hàng. Hệ thống xác định trị giá hải quan theo định nghĩa Brussel đã được nhiều nước tham gia. Nhưng đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, người ta đã nhận thấy rõ ràng hơn những nhược điểm của Hệ thống Brussels đó là "tính không đồng bộ" trong việc áp dụng định nghĩa Brussels giữa các quốc gia khác nhau. Từ năm 1973 -1979, các nước trên thế giới bắt đầu một loạt các cuộc đàm phán mới nhằm đạt được những thuận lợi trong mở rộng và tự do hóa thương mại quốc tế.
Vòng đàm phán này được gọi là Vòng đàm phán Tokyo (1973 -1979) với sự tham gia của 120 quốc gia, với mục tiêu là tiếp tục những nỗ lực mà GATT theo đuổi nhằm từng bước giảm bớt hàng rào thuế quan, và kết quả của nó là một Hiệp định mới về xác định trị giá hải quan ra đời năm 1981. Hiệp định trị giá hải quan vẫn dựa trên Điều VII của Hiệp định trị giá GATT. Tuy nhiên, nguyên tắc chung đã được cụ thể hóa bằng các phương pháp xác định trị giá hải quan cụ thể đi kèm những hướng dẫn rõ ràng. Cho đến những năm 1986 - 1994, trước áp lực của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế và thương mại thế giới, các nước chủ chốt của GATT đã đi đến quyết định nhất thể hóa toàn bộ các hiệp định, hiệp ước, công ước liên quan đến thương mại và dịch vụ thành một hệ thống thống nhất, có một cơ quan chính thức quản lý và điều hành.
Sự kiện này còn được đánh dấu bằng một tên gọi khác, đó là Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) với sự tham 10 z gia của 125 quốc gia; đây cũng là vòng đàm phán cuối cùng và là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả (8 vòng) đàm phán của GATT. Kết quả là, năm 1994, Tổ chức thương mại thế giới - World Trade Organization - WTO đã ra đời và thay thế GATT. WTO không chỉ đơn giản là sự kế thừa của GATT, mà còn có phạm vi hoạt động lớn hơn rất nhiều. Nó vừa là cơ quan quản lý, vừa là cơ quan trọng tài đứng ra phán xử các tranh chấp quốc tế về các hoạt động thương mại quốc tế.
Cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định về thực hiện điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại hay còn được biết đến với cái tên - Hiệp định trị giá Hải quan GATT - đã được sửa đổi và có tên là Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994. Từ tháng 1 năm 1995, Hiệp định trị giá Hải quan thường được cộng đồng quốc tế biết đến là Hiệp định Trị giá Hải quan của Tổ chức Thương mại Thế giới (GATT/WTO). Đối với những nước muốn trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, việc áp dụng Hiệp định trị giá hải quan là việc bắt buộc. KHÁI QUÁT VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1.
Khái niệm trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu - Trị giá hải quan (Custom Value) Theo quản lý hải quan hiện đại: "Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là phần số liệu về trị giá của hàng hóa được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan do cơ quan hải quan quản lý và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu quản lý Nhà nước về hải quan" [50, tr. Theo điều 15 Hiệp định trị giá GATT/WTO: "Trị giá hải quan của hàng nhập khẩu là trị giá hàng hóa phục vụ cho đánh thuế theo trị giá hàng đối với hàng nhập khẩu" [36, tr. 11 z - Trị giá tính thuế (Duty Value) + Quan niệm giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO: "Trị giá tính thuế là trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế. Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm cơ sở tính thuế" [23, tr.
+ Khái niệm theo luật pháp Việt Nam: Điều 9 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định "giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế" [5, tr. Điều 1 Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ qui định về xác định trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu "Xác định trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu" [8, tr. Thông tư 40/2008/TT-BTC cũng ghi rõ "Trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế (sau đây gọi là trị giá tính thuế)" [6, tr. Như vậy, từ các khái niệm trên, thừa nhận một quan điểm chung đó là: "Trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu đó phục vụ mục đích tính thuế".
Trên thực tế, tùy theo từng phạm vi và mục đích nghiên cứu, có tài liệu, văn bản (hầu hết là tài liệu nước ngoài) sử dụng cụm từ "Trị giá hải quan"; có tài liệu, văn bản (chủ yếu các tài liệu trong nước) sử dụng cụm từ "trị giá tính thuế" nhưng phân tích dưới góc độ nhằm mục đích tính thuế thi 2 khái niệm này đồng nhất với nhau. Trong luận văn này, xin sử dụng chung một khái niệm là "trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu" 1. Đặc điểm và vai trò của trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Đặc điểm của trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu - Đặc điểm chung: Nhằm mục đích tính thuế (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thu chênh lệch giá) - Đặc điểm riêng: Với mỗi khái niệm kéo theo những đặc điểm khác nhau, chẳng hạn trị giá tính thuế theo khái niệm Việt Nam còn nhằm mục đích 12 z thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu. Phương pháp xác định cũng khác nhau tùy theo chính sách xác định giá tính thuế từng giai đoạn.
Vai trò của trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Trị giá tính thuế thể hiện vai trò cơ bản là: - Trị giá tính thuế phục vụ mục tiêu quản lý và xây dựng chính sách xuất nhập khẩu hàng hóa trong nền kinh tế. Trị giá tính thuế còn cho biết tổng trị giá hàng hóa đã được thực xuất khẩu hay nhập khẩu qua từng thời kỳ. Đây chính là số liệu quan trọng để xây dựng bảng cân đối kim ngạch XNK của nền kinh tế, từ đó giúp cơ quan quản lý có thể biết được trong kỳ đó, thời điểm đó, giai đoạn đó nền kinh tế có đạt được sự cân bằng về cán cân thương mại hay không, có hiện tượng nhập siêu hay xuất siêu không để có chính sách điều chỉnh (về hạn ngạch hoặc về thuế) và quản lý kịp thời. - Trị giá tính thuế là cơ sở để thực thi các chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Trong một số trường hợp, để bảo hộ nền sản xuất trong nước và điều chỉnh các chính sách đối ngoại song phương, các quốc gia thường sử dụng công cụ hạn ngạch (quota) như một hàng rào phi thuế quan. Trị giá tính thuế sẽ là cơ sở số liệu để cơ quan quản lý thương mại đánh giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đạt hay vượt hạn ngạch qui định, từ đó có biện pháp điều chỉnh về chính sách thương mại hay chính sách thuế (thuế hạn ngạch). - Trị giá tính thuế tham gia thực hiện nhiệm vụ thống kê nền kinh tế - Trị giá tính thuế là cơ sở quan trọng cho việc tính toán, xác định thuế đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây là vai trò cơ bản của trị giá tính thuế.
Với vai trò này trị giá tính thuế đồng nghĩa với trị giá hải quan. Ý nghĩa của trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu - Trước hết, trị giá tính thuế góp phần hình thành đúng giá cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.