CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG TRANG TRẠI CHĂN NUÔI Việt Nam là một nước nông nghiệp có hơn 11 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, vì vậy nhu cầu phân bón và phân bón hữu cơ rất cao. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn, gà nói riêng đã có những tiến bộ đáng kể về chất lượng con giống, kỹ thuật chăn nuôi, cơ sở chuồng trại, quản lý dịch bệnh, v. Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, mang tính tận dụng, tự cung tự cấp tuy vẫn còn chiếm một tỷ lệ lớn, chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, nhưng đang dần bị thay thế bởi mô hình chăn nuôi công nghiệp tập trung. Các cơ sở chăn nuôi lợn, gà có quy mô tập trung này chủ yếu được xây dựng gần các khu dân cư hoặc các khu công nghiệp có đông đảo người lao động nhằm tạo vành đai cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, đáp ứng thị hiếu sử dụng thực phẩm tươi sống (thực phẩm không qua đông lạnh) của người tiêu dùng, lượng phế phụ phẩm chăn nuôi lợn, gà còn lại được sử dụng để bón cho cây trồng.Vấn đề môi trường trong quản lý chất thải chăn nuôi [5] Theo thống kê của Bộ NN&PTNT về chăn nuôi, số nhóm chăn nuôi chính ở nước ta hiện nay như sau: Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việc phát triển hệ Bảng 1.
Số lượng của một số nhóm chăn nuôi chính STT Loại vật Năm TTBQ/năm nuôi 2011 2012 2013 2014 2015 2016 (%) 1 Trâu 2,71 2,63 2,56 2,52 2,52 2,51 -1,45 (triệu con) 2 Bò 5,43 5,19 5,15 5,23 5,36 5,50 0,24 (triệu con) 3 Lợn 27,06 26,49 26,26 26,76 27,56 29,08 1,45 (triệu con) 4 Gia cầm 322,5 308,5 317,1 327,7 341,4 361,7 2,32 (triệu con) thống chăn nuôi bền vững. Để tăng lợi nhuận nông dân đã và đang chuyển sang sản xuất trang trại chuyên môn hóa cao. Phương thức tổ chức sản xuất chăn nuôi hàng hoá quy mô trang trại những năm gần đây ngày càng nhân rộng và phát triển. tính đến hết năm 2015, cả nước có 15068 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và đã xuất hiện mô hình trang trại tư nhân với quy mô lớn, ứng dụng khoa học kỹ thuật tốt và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Với sự gia tăng không ngừng về chăn nuôi, mỗi năm khối lượng nguồn thải từ Học viên: Nguyễn Huy Hoan 3 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ chăn nuôi ra môi trường là một con số khổng lồ - khoảng 84,5 triệu tấn chất thải rắn và 50 triệu mét khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn) trong đó chỉ có khoảng 60% được xử lý, khoảng 20% được sử dụng hiệu quả (làm khí sinh học, ủ phân, nuôi côn trùng, cho cá ăn,…), còn lại 40% lượng chất thải chăn nuôi vẫn được thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm. Trong công trình nghiên cứu của mình, Porphyre và Nguyễn Quế Côi đã nhìn nhận phế thải chăn nuôi là sản phẩm của quá trình chăn nuôi (Porphyre & CS, 2006). Trên thực tế, người nông dân không những biết cách sử dụng nguồn phế thải chăn nuôi làm phân bón cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn sử dụng nó như một nguồn thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản. Tuỳ theo mục đích sử dụng mà người nông dân sử dụng phế thải chăn nuôi ở dạng này hay dạng khác, như: - Ủ compost.
- Bón tươi trực tiếp cho cây trồng. - Xả trực tiếp ra sông, suối. - Làm thức ăn cho cá. Phân tách 30,95% Bảng 1.
Chất thải rắn từ chăn nuôi ở Việt Nam 2011-2016 Phân Chất Vật con/ngàyKhông phân Lượng tách chất thải hàng nămthải (triệu tấn/năm) nuôi 69,05% (kg) 75% Trong 2011 2012 2013 2014 2015 trang trại 2016 2,5 38,1% 24,69 24,18 Lợn Bón cây 23,96 19,54 25,32 25% 26,53 Ngoài Gia cầm 0,2 23,55 22,52 22,98 23,92 24,96 trang trại 26,41 100% Bò 10 28,57% 19,84 18,96 Thu 18,82 gom bán 19,11 19,59 20,06 Đun nấu Trâu 15 14,85 14,39 14,01 13,75 13,82 13,79 XỬ Dê, cừu 1,5 47,62% 0,66 0,73 Biogas 0,74 0,91 20% Khí gas 1,03 1,18 Phát điện NgựaLÝ 4 0,13 0,12 0,12 0,10 0,09 0,08 Hươu, 9,52% 2,5 0,05 0,05 Compose 0,06 0,06 0,06 Nước thải 0,05 nai Tổng cộng 83,77 80,95 80,69 77,386 84,88 88,10 52,18% Đưa xuống 30% 70% ao cá Học viên: Nguyễn Huy Hoan 4 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử 28,57% 60% Thải ra môi trường Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ Hình 1. Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải chăn nuôi Ủ compost: Để có thể ủ được phân compost thì cần phải phân tách được chất thải rắn và chất thải lỏng do đó chỉ có nơi nào tiến hành phân tách chất thải mới áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, tỷ lệ phân tách chất thải khá thấp nên việc ủ phân compose không được sử dụng nhiều. Nguyên nhân là do phân lợn thường rất khó thu gom vì bị nát, dễ hòa tan cùng với nước tiểu và nước rửa chuồng.
Do đó, khối lượng phân thu gom được để đem đi ủ là khá ít. Về thời gian ủ theo các chủ trang trại là từ 8- 25 ngày (trung bình 14,5 ngày) cũng do thời gian của một mẻ ủ khá dài nên biện pháp này cũng ít được sử dụng và tỷ lệ xử lý so với tổng nguồn thải cũng rất ít. Biện pháp này có ưu điểm phân sau ủ không còn mùi hôi thối, lại có thể sử dụng tốt để bón cho cây, đất hoặc dễ bán hơn là phân tươi. Bán phân tươi: Đây là biện pháp thu gom chất thải rắn trong những lần dọn chuồng, lượng phân rắn thu được sẽ bán cho những hộ trồng trọt có nhu cầu sử dụng Học viên: Nguyễn Huy Hoan 5 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ phân.
Biện pháp này cũng được áp dụng khá phổ biến ở các trang trại lợn (Cao Trường Sơn và CS, 2014) Bón cho cây: Đây là biện pháp mà các trang trại sử dụng trực tiếp phân và nước thải của các chuồng nuôi lợn để tưới hoặc bón cho cây trồng. Đây cũng là một trong những biện pháp được áp dụng khá phổ biến. Thông thường biện pháp này được áp dụng khi khu chăn nuôi có kết hợp với trồng trọt. Đánh giá về biện pháp này, hầu hết các chủ trang trại đều cho là tốt do họ giảm được chi phí mua phân bón cho cây trồng, cây trồng nhờ đó cũng phát triển tốt và đất đai trong trang trại của họ cũng được cải thiện.
Tuy nhiên, trên thực tế đây là biện pháp bón phân không hợp vệ sinh bởi trong chất thải chuồng lợn có chứa nhiều mầm bệnh nên khi bón trực tiếp vào đất và cây trồng sẽ đem theo cả các mầm bệnh này từ đó tiềm ẩn khả năng gây bệnh cho con người cũng như khả năng ngộ độc thực phẩm cao. Hầm biogas: Đây là công nghệ đang được áp dụng phổ biến ở Việt Nam. Nguyên liệu khi qua công nghệ biogas thì một phần sẽ chuyển hóa thành khí biogas, còn một phần là bã đặc và nước thải lỏng. Bã thải này có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: như dùng để làm phân bón (giúp tăng năng suất cây trồng, hạn chế sâu bệnh, nâng cao độ phì cho đất); các mục đích khác (xử lí hạt giống trước khi gieo trồng, nuôi thủy sản, trồng nấm…), công nghệ biogas cũng đem lại nhiều lợi ích trong việc đun nấu, thắp sáng, chạy động cơ đốt trong (thay thế xăng, dầu dieden), úm gà con, nuôi tằm, sưởi nhà kín, giảm bớt mùi hôi thối chuồng trại.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của công nghệ này là chất lượng đầu ra của việc xử lí chất thải không đạt QCVN 24: 2009/BTNMT, chi phí đầu tư ban đầu lớn, khả năng tạo khí chưa cao, khó khăn trong việc lấy chất thải sau khi xử lí và mất nhiều thời gian xử lí. Sử dụng làm thức ăn cho cá: Đây là hình thức xử lý chất thải bằng cách đưa chất thải từ các chuồng trại xuống ao nhằm cung cấp thức ăn cho cá. Biện pháp này rất hiệu quả do vừa tiết kiệm được chi phí mua thức ăn cho cá, vừa giải quyết được vấn đề môi trường, hơn nữa biện pháp này lại rất đơn giản và không tốn nhiều công sức. Tuy nhiên, nếu thả quá nhiều chất thải xuống ao cá có thể gây ô nhiễm nước ao và làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cá; hơn nữa việc sử dụng phân thải làm thức ăn còn phải căn cứ vào loại cá thả trong ao.
Thải bỏ ra ngoài môi trường: Đây thực chất là hình thức các trang trại không tiến hành xử lý chất thải mà đem xả thải trực tiếp vào môi trường. Điểm xả thải thường là các ao, mương, kênh, rãnh nước tự nhiên xung quanh các trang trại. Việc xả thải này chắc chắn sẽ tác động rất xấu đến môi trường do nguồn thải phát sinh lớn, liên Học viên: Nguyễn Huy Hoan 6 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ tục trong khi các nguồn tiếp nhận thường hạn chế và nhỏ hẹp. Mỗi hình thức đều có ưu nhược điểm riêng, tuy nhiên, hiện nay các trang trại thường chỉ sử dụng 1 đến 2 biện pháp xử lý chất thải đơn lẻ nên không giải quyết triết để được nguồn thải phát sinh.
Do đó sử dụng cùng lúc nhiều biện pháp xử lý sẽ giúp các trang trại không những xử lý triệt để được nguồn thải mà còn giúp họ tăng cường sử dụng chất thải, tiết kiệm được chi phí và tạo ra thu nhập tăng thêm. Bên cạnh đó, việc quản lý môi trường chăn nuôi còn thiếu sự quan tâm thỏa đáng của các cấp chính quyền, thói quen lao động chưa gắn chặt với việc bảo vệ môi trường; Phương thức và tập quán chăn nuôi vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán xả thải tự nhiên ra môi trường và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trực tiếp, phạm vi, quy mô rộng lớn. Vấn đề môi trường trong xử lý chất thải [5] Khi chăn nuôi theo hướng trang trại hoặc các làng nghề chăn nuôi mang tính hàng hóa được hình thành và phát triển thì vấn đề vệ sinh môi trường đã nảy sinh và thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý môi trường (Lê Văn Tản, 2008; Nguyễn Thiện & CS, 2004; Gerber & CS, 2005, Menzi H & CS, 2005). Sự ô nhiễm môi do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi thức ăn và sức khỏe con người.