Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học với đề tài "Hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con khi cha, mẹ ly hôn" được thực hiện bởi tác giả Trương Đỗ Quỳnh Trang (MSSV: 452544), chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Phương Lan.
Về bối cảnh thực tiễn và tính cấp thiết, tác giả xác định ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng nhưng không làm chấm dứt quan hệ pháp lý và tình cảm giữa cha, mẹ và con cái. Dưới góc độ xã hội học và pháp lý, sự đổ vỡ hôn nhân tác động trực tiếp, nhiều chiều và dễ dẫn đến tổn thương thể chất, tinh thần đối với con chung. Thực tế áp dụng pháp luật ghi nhận tình trạng nhiều bậc cha mẹ sau ly hôn bỏ mặc con cái, phó mặc cho người thân chăm sóc, trốn tránh nghĩa vụ thăm nom hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng. Việc nghiên cứu có hệ thống hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con nhằm đánh giá những điểm chưa phù hợp của khung pháp luật thực định và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật hiện hành trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn; phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử của Tòa án; phát hiện các bất cập, vướng mắc để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Khóa luận xác định và đánh số 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hệ quả pháp lý giữa cha mẹ và con khi cha mẹ ly hôn.
- Phân tích quy định pháp luật hôn nhân và gia đình cùng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về hệ quả pháp lý giữa cha mẹ và con khi cha mẹ ly hôn.
- Tìm hiểu thực tế áp dụng quy định pháp luật về hệ quả pháp lý giữa cha mẹ và con khi cha mẹ ly hôn qua thực tiễn xét xử tại Tòa án qua một số bản án.
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hệ quả pháp lý giữa cha mẹ và con khi cha mẹ ly hôn.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn, cùng thực tiễn xét xử giải quyết các tranh chấp này tại Tòa án nhân dân.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi quan hệ chủ thể: Chỉ nghiên cứu quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các chủ thể là công dân Việt Nam, không nghiên cứu các quan hệ có yếu tố nước ngoài.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật từ thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành đến nay.
- Phạm vi đối tượng con: Giới hạn ở con chung của vợ chồng (bao gồm con đẻ và con nuôi chung) thuộc hai nhóm đối tượng theo khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: con chưa thành niên; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Quan hệ giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của bên kia khi ly hôn không thuộc phạm vi giải quyết của hệ quả này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin về gia đình và chế độ hôn nhân mang tính giai cấp qua từng giai đoạn lịch sử. Khung pháp lý tham chiếu trực tiếp bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 16 về nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật).
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều khoản trọng tâm: Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về năng lực hành vi dân sự tại Điều 21, Điều 22 và quyền đại diện tại Điều 136, Điều 141).
- Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 14 về quyền được chăm sóc sức khỏe, Điều 15 về quyền được chăm sóc nuôi dưỡng, Điều 16 về quyền được giáo dục).
- Nghị định số 144/2021/NĐ-CP (Điều 56 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con).
- Văn bản so sánh, tham chiếu lịch sử: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Án lệ số 54/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Phân tích các điều luật thực định, làm rõ bản chất quyền nhân thân và quyền tài sản giữa cha mẹ và con sau ly hôn; tổng hợp các số liệu thực tiễn để đánh giá thực trạng.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm làm rõ những điểm sửa đổi, bổ sung; đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các báo cáo khoa học về pháp luật nước ngoài (như Cộng hòa Pháp).
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các giáo trình luật học, tài liệu hội thảo quốc tế và cấp khoa của Trường Đại học Luật Hà Nội; các luận văn, luận án chuyên ngành; các bài viết trên các tạp chí pháp lý chuyên ngành (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, Tạp chí Kiểm sát, Báo Pháp luật Việt Nam); số liệu thống kê từ Trang thông tin điện tử công bố Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân Tối cao và báo cáo thực tiễn từ cơ quan tiến hành tố tụng địa phương (Công an TP. Thái Nguyên, TAND tỉnh Thái Nguyên).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con khi cha mẹ ly hôn
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng và bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Khái niệm ly hôn được phân tích dưới hai lăng kính: góc độ xã hội (giải thoát cho quan hệ hôn nhân rạn nứt) và góc độ pháp lý (sự kiện pháp lý chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án).
Tác giả đưa ra định nghĩa: Hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con khi cha mẹ ly hôn là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn, thể hiện qua các quyền, nghĩa vụ cụ thể của người trực tiếp nuôi con và người không trực tiếp nuôi con theo luật định.
Chương này luận giải 8 đặc điểm cốt lõi của hệ quả pháp lý giữa cha mẹ và con:
- Được điều chỉnh xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích tốt nhất của con.
- Mang tính quy phạm phổ biến, bắt buộc chung cho mọi chủ thể khi xuất hiện sự kiện ly hôn.
- Là các quyền và nghĩa vụ được thực hiện theo phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
- Về bản chất nội dung không thay đổi so với thời kỳ hôn nhân, chỉ thay đổi phương thức thực hiện do cha mẹ không còn sống chung.
- Chỉ đặt ra đối với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự/không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình.
- Chỉ phát sinh trong quan hệ giữa cha mẹ với con chung (con đẻ, con nuôi hợp pháp), không phát sinh giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế sau ly hôn.
- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con có sự phụ thuộc nhất định vào người trực tiếp nuôi con.
- Có thể hoán đổi chủ thể trực tiếp nuôi dưỡng tùy theo biến động hoàn cảnh thực tế.
Chương 1 khẳng định ý nghĩa của chế định: là cơ sở ràng buộc trách nhiệm nuôi dưỡng của cha mẹ, bảo vệ tối đa quyền trẻ em, bảo đảm bình đẳng giới giữa cha và mẹ, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa và góp phần giáo dục ý thức, đạo đức gia đình.
Chương 2: Hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con khi cha mẹ ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành
Chương 2 phân tích chuyên sâu các nhóm quy phạm thực định điều chỉnh quan hệ giữa cha mẹ và con sau ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chia thành các nội dung cụ thể:
Xác định người trực tiếp nuôi con (Điều 81):
- Ưu tiên thỏa thuận giữa cha và mẹ.
- Trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con (thu nhập, chỗ ở, thời gian chăm sóc, nhân thân đạo đức).
- Đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên: Bắt buộc xem xét nguyện vọng của con (sửa đổi tiến bộ so với mốc từ đủ 09 tuổi tại Luật năm 2000).
- Đối với con dưới 36 tháng tuổi: Về nguyên tắc giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác. Tác giả phân tích Án lệ số 54/2022/AL của TANDTC làm minh chứng: khi mẹ bỏ đi từ lúc con 04 tháng tuổi, con đã quen nếp sống và được người cha nuôi dưỡng ổn định, Tòa án quyết định giao con dưới 36 tháng tuổi cho cha để tránh xáo trộn đời sống của trẻ.
Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con:
- Trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Luật Trẻ em 2016.
- Đại diện cho con trong các giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu; đối với tài sản là bất động sản hoặc động sản đăng ký quyền sở hữu/sử dụng đưa vào kinh doanh phải có sự thỏa thuận với người không trực tiếp nuôi con (Điều 73, 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 136, 141 BLDS 2015).
- Quản lý và định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên/mất năng lực hành vi dân sự.
- Bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của pháp luật dân sự.
Quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con:
- Quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở (Điều 82).
- Tôn trọng quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (Điều 110, 116, 117, 118). Phân tích chi tiết đối tượng được cấp dưỡng, căn cứ xác định mức cấp dưỡng (dựa trên nhu cầu thiết yếu của con và khả năng thực tế của người cấp dưỡng), phương thức cấp dưỡng (định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần) và các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 118.
Mối quan hệ qua lại giữa hai bên cha mẹ và thay đổi người nuôi con:
- Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người kia thực hiện nghĩa vụ và không được cản trở việc thăm nom. Hành vi cản trở có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (theo Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP). Nếu người không trực tiếp nuôi lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu, người nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84): Thực hiện khi có thỏa thuận mới hoặc khi người đang nuôi không còn đủ điều kiện; mở rộng quyền yêu cầu thay đổi cho người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan bảo vệ trẻ em và Hội Liên hiệp phụ nữ.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con khi cha mẹ ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 3 tổng kết tình hình thực tiễn xét xử, chỉ ra các vướng mắc và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Thực tiễn áp dụng và tình hình xã hội:
Số liệu từ Trang thông tin điện tử công bố Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân Tối cao từ 01/12/2022 đến 01/12/2023 cho thấy:
- Cả nước diễn ra 137.749 vụ án hôn nhân và gia đình.
- Tỷ lệ ly hôn so với kết hôn là 25% (trung bình 4 cặp đăng ký kết hôn thì có 1 cặp ly hôn).
- 70% số vụ ly hôn thuộc về các cặp vợ chồng trẻ trong độ tuổi 18–30.
- 60% số vụ ly hôn xảy ra sau 1–5 năm chung sống, nhiều trường hợp chỉ sau vài tháng hoặc vài ngày. Do độ tuổi kết hôn và ly hôn trẻ, phần lớn con chung đều chưa thành niên hoặc dưới 5 tuổi.
Thực tiễn tại địa phương (tỉnh Thái Nguyên) cho thấy sự buông lỏng quản lý sau ly hôn làm gia tăng tội phạm vị thành niên. Tác giả dẫn chứng vụ án giết người xét xử tháng 4/2022 tại Tòa Gia đình và Người chưa thành niên TAND tỉnh Thái Nguyên: các bị cáo từ 13–15 tuổi phạm tội giết người bị tuyên phạt từ 12–18 năm tù giam, trong đó có 5 bị cáo có hoàn cảnh cha mẹ ly hôn.
Những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành:
- Khái niệm con đã thành niên "không có khả năng lao động" và "không có tài sản để tự nuôi mình" chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các Tòa án.
- Căn cứ xác định mức cấp dưỡng dựa trên "thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng" chưa có tiêu chí định lượng rõ ràng kể từ khi Nghị định số 70/2001/NĐ-CP hết hiệu lực, khiến mức cấp dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của Thẩm phán.
- Thiếu quy định chi tiết về thời hạn "tạm ngừng cấp dưỡng" và việc có phải thực hiện "cấp dưỡng bù" sau khi phục hồi khả năng kinh tế hay không, tạo kẽ hở cho việc trốn tránh nghĩa vụ.
| Nội dung pháp lý |
Quy định Luật HN&GĐ 2000 / Nghị định 70/2001 |
Quy định Luật HN&GĐ 2014 / Hiện hành |
Bất cập / Điểm cần hoàn thiện |
| Độ tuổi lấy ý kiến con khi giải quyết nuôi dưỡng |
Từ đủ 09 tuổi trở lên |
Từ đủ 07 tuổi trở lên (khoản 2 Điều 81) |
Cần quy định chặt chẽ thủ tục lấy ý kiến tránh việc con bị cha/mẹ tác động tâm lý. |
| Chủ thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con |
Chỉ có cha, mẹ (Điều 93 Luật 2000) |
Mở rộng: cha, mẹ, người thân thích, cơ quan bảo vệ trẻ em, cơ quan quản lý gia đình, Hội phụ nữ (Điều 84) |
Quy định rõ trình tự xác minh điều kiện nuôi dưỡng khi tổ chức xã hội yêu cầu. |
| Tiêu chí xác định khả năng cấp dưỡng |
Quy định cụ thể tại Điều 16 Nghị định 70/2001/NĐ-CP (có thu nhập/tài sản sau khi trừ chi phí) |
Chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết thay thế Nghị định 70/2001/NĐ-CP |
Phụ thuộc vào nhận định chủ quan của Thẩm phán; thiếu khung định mức tối thiểu. |
| Phương thức cấp dưỡng một lần |
Quy định chi tiết các trường hợp tại Điều 18 Nghị định 70/2001/NĐ-CP |
Điều 117 Luật 2014 chỉ nêu nguyên tắc, không có văn bản hướng dẫn cụ thể |
Khó xác định trượt giá, biến động nhu cầu của trẻ và cơ chế cấp dưỡng bổ sung. |
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả, khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học pháp lý và thống kê thực tiễn:
- Tổng hợp số liệu xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 01/12/2022 – 01/12/2023 với 137.749 vụ án hôn nhân và gia đình, chỉ rõ thực trạng 70% số vụ ly hôn thuộc nhóm tuổi 18–30 và hệ quả trực tiếp đối với nhóm con chung dưới 5 tuổi.
- Phân tích án lệ thực tiễn (Án lệ số 54/2022/AL) để làm sáng tỏ ngoại lệ giao con dưới 36 tháng tuổi cho người cha nuôi dưỡng nhằm bảo đảm tính ổn định trong môi trường sống của trẻ.
- Chỉ rõ chế tài hành chính tại Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng cho hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật: Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về các điều kiện "không có khả năng lao động" và "không có tài sản để tự nuôi mình" đối với con đã thành niên; xây dựng tiêu chí định lượng cụ thể về mức cấp dưỡng tối thiểu (gắn với mức lương cơ sở hoặc thu nhập thực tế); quy định rõ giới hạn thời gian tạm ngừng cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng bù.
- Về tổ chức thực hiện: Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và chính quyền địa phương trong việc giám sát thực hiện nghĩa vụ sau ly hôn; đẩy mạnh công tác hòa giải và tuyên truyền pháp luật hôn nhân gia đình đối với các cặp vợ chồng trẻ.
Về đóng góp so với các công trình trước, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các nghiên cứu trước đây (như của Nguyễn Thị Thúy An 2017, Nguyễn Thị Thu Chuyên 2022, Phạm Thị Phương Thảo 2023) chỉ tiếp cận đơn lẻ một khía cạnh (hoặc quyền nhân thân, hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng, hoặc bảo vệ trẻ em). Khóa luận này kế thừa và phát triển thành một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, bao quát đồng thời cả hai nhóm quyền nhân thân và quyền tài sản, gắn kết giữa phân tích điều luật thực định và đánh giá án lệ, số liệu xét xử thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận xác định rõ phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào các quan hệ hôn nhân và gia đình nội địa giữa các công dân Việt Nam, chưa mở rộng nghiên cứu hệ quả pháp lý trong các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài (như việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng xuyên biên giới, công nhận và cho thi hành bản án về quyền nuôi con của Tòa án nước ngoài).
Về mặt đối tượng, đề tài giới hạn ở hai nhóm con chung thuộc diện cấp dưỡng, chăm sóc theo khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không đi sâu vào giải quyết tranh chấp tài sản riêng của con khi có tranh chấp phức tạp giữa cha mẹ và người thứ ba. Đây là những định hướng mở cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo trong lĩnh vực tư pháp quốc tế và pháp luật tố tụng dân sự.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật.
Nội dung nghiên cứu tại Chương 2 và Chương 3 có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với các Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình thu thập chứng cứ, đánh giá điều kiện trực tiếp nuôi con, áp dụng Án lệ số 54/2022/AL, giải quyết tranh chấp về mức và phương thức cấp dưỡng, cũng như xử lý các yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định hiện hành, con dưới 36 tháng tuổi có bắt buộc phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng hay không?
Không bắt buộc tuyệt đối. Theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Án lệ số 54/2022/AL khẳng định khi người mẹ bỏ đi từ lúc con 04 tháng tuổi, người cha nuôi dưỡng con ổn định và phát triển tốt thì Tòa án quyết định giao con cho người cha để tránh làm xáo trộn cuộc sống của trẻ.
2. Độ tuổi con được Tòa án lấy ý kiến, xem xét nguyện vọng khi phân định quyền nuôi dưỡng theo Luật năm 2014 khác gì so với Luật năm 2000?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên (khoản 2 Điều 81). Quy định này đã hạ độ tuổi lấy ý kiến so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (yêu cầu con từ đủ 09 tuổi trở lên), thể hiện sự ghi nhận sự phát triển nhận thức sớm hơn của trẻ em trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện đại.
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chấm dứt trong những trường hợp cụ thể nào?
Căn cứ Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi: (1) Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình; (2) Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi; (3) Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng; (4) Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết; (5) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Khóa luận trích dẫn số liệu nào về tình hình ly hôn ở độ tuổi trẻ tại Việt Nam trong giai đoạn 2022 – 2023?
Theo số liệu từ Trang thông tin điện tử công bố Bản án, Quyết định của TANDTC từ ngày 01/12/2022 đến 01/12/2023, cả nước có 137.749 vụ án hôn nhân và gia đình; tỷ lệ ly hôn/kết hôn đạt 25%; trong đó 70% số vụ thuộc về các cặp vợ chồng trong độ tuổi từ 18–30 và 60% các vụ ly hôn xảy ra sau 1–5 năm chung sống.
5. Hành vi cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom bị pháp luật xử lý như thế nào?
Theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con (trừ trường hợp cha mẹ bị Tòa án hạn chế quyền thăm nom con) bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Đỗ Quỳnh Trang đã làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực định về hệ quả pháp lý giữa cha, mẹ và con khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghiên cứu kết hợp phân tích điều luật với đánh giá số liệu xét xử toàn quốc và án lệ thực tế nhằm phản ánh bức tranh thực thi quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản của cha mẹ đối với con. Các đề xuất hoàn thiện tiêu chí cấp dưỡng, điều kiện người trực tiếp nuôi con và cơ chế phối hợp giám sát thi hành án là những đóng góp học thuật thiết thực, hướng tới mục tiêu bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em khi cha mẹ ly hôn.