CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU 1.1 Khái niệm hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu “Nghĩa vụ” là một thuật ngữ quen thuộc và thường xuyên được đề cập đến trong BLDS của nước ta. Trước đây, Điều 280 BLDS 2005 đã định nghĩa về nghĩa vụ dân sự như sau: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Sau mười năm đi vào thực tiễn áp dụng, mặc dù BLDS 2005 đã được thay thế bởi BLDS 2015 nhưng khái niệm nghĩa vụ thì vẫn được duy trì trong BLDS 2015 chỉ bỏ đi từ “dân sự”.
Cụ thể, Điều 274 BLDS 2015 quy định như sau: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Như vậy, theo định nghĩa của hai Bộ luật vừa nêu thì quan hệ nghĩa vụ là một quan hệ dân sự được hình thành từ hai bên chủ thể (bên có quyền và bên có nghĩa vụ) có quyền lợi và nghĩa vụ đối lập nhau, trong đó bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nào đó nhằm đảm bảo quyền lợi của mình. Thông thường, bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ đều muốn tự mình thực hiện quyền yêu cầu trước bên có nghĩa vụ để thụ hưởng những lợi ích do nghĩa vụ mang lại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp vì lý do nào đó (khách quan hoặc chủ quan) mà bên có quyền không tự mình thực hiện quyền yêu cầu.
Khi đó, để tạo điều kiện thuận tiện cho bên có quyền thì pháp luật cho phép chủ thể này được chuyển giao quyền yêu cầu của mình cho một chủ thể khác theo sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Việc chuyển giao quyền yêu cầu này sẽ làm chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể của bên chuyển giao quyền yêu cầu và làm phát sinh tư cách chủ thể của bên nhận chuyển giao quyền yêu cầu, thuật ngữ pháp lý gọi đó là hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu. 13 Mặc dù chế định chuyển giao quyền yêu cầu có nhiều nội dung nhưng hệ quả pháp lý là một trong những nội dung quan trọng nhất của chế định này, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên chủ thể. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật dân sự chưa có định nghĩa hay giải thích nào về hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu.
Đây là nguyên nhân dẫn đến việc thuật ngữ này không được sử dụng thống nhất trên thực tế. Theo đó, có tài liệu sử dụng là “hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu”1 nhưng cũng có tài liệu khác sử dụng là “hậu quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu”2. Nếu xét về mặt nội dung thì hai thuật ngữ vừa nêu là giống nhau vì chúng cùng chỉ kết quả của việc chuyển giao quyền yêu cầu, tuy nhiên nếu xét về mặt ý nghĩa thì giữa chúng là có sự khác biệt. Đối với từ “hậu quả”, nó thường được sử dụng để chỉ những kết cục không hay xảy ra từ một sự kiện hay một hành vi nào đó của chủ thể.
Do đó, thuật ngữ “hậu quả pháp lý” sẽ được hiểu là “kết cục tất yếu sẽ dẫn đến mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu trong trường hợp vi phạm pháp luật”3. Ví dụ, việc người lao động không được nhận trợ cấp thôi việc, phải hoàn trả chi phí đào tạo, bồi thường nửa tháng tiền lương và khoản tiền lương tương ứng trong những ngày không báo trước cho người sử dụng lao động chính là hậu quả pháp lý của việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật (Điều 40 Bộ luật Lao động 20194). Đối với từ “hệ quả”, mặc dù nó cũng được dùng để chỉ các kết quả xảy ra từ một sự kiện hay một hành vi nào đó của chủ thể nhưng những kết quả này có thể mang ý nghĩa tiêu cực hoặc tích cực. Do đó, thuật ngữ “hệ quả pháp lý” sẽ được hiểu là những vấn đề phát sinh từ một sự kiện hoặc một hành vi nào đó của chủ thể được pháp luật công nhận.
Ví dụ, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là kể từ ngày nhận con nuôi thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; cha mẹ đẻ sẽ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý hay định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm 1 Đỗ Văn Đại (2020), Luật nghĩa vụ Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (Phần I – Những vấn đề chung về nghĩa vụ), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 2 Trường Đại học Luật TP. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
3 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật 1. Không được trợ cấp thôi việc.
Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không thông báo trước. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này. Đối với trường hợp chuyển giao quyền yêu cầu thì đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật và kết quả của nó cũng không mang ý nghĩa tiêu cực, do đó thay vì sử dụng thuật ngữ “hậu pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu” thì nên sử dụng thuật ngữ “hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu” để chỉ các vấn đề pháp lý phát sinh sau khi chuyển giao quyền yêu cầu, cụ thể như sau: Hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu là những vấn đề pháp lý phát sinh từ sự kiện chuyển giao quyền yêu cầu, làm chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể của bên chuyển giao quyền yêu cầu và làm phát sinh tư cách chủ thể của bên nhận chuyển giao quyền yêu cầu.2 Đặc điểm hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu Hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu có những dấu hiệu đặc trưng làm cơ sở để phân biệt hệ quả pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu với hệ quả pháp lý của các loại giao dịch khác, thể hiện qua các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chuyển giao quyền yêu cầu làm chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể của bên chuyển giao quyền yêu cầu. Sau khi chuyển giao quyền yêu cầu, mối quan hệ pháp lý giữa bên có quyền ban đầu và bên có nghĩa vụ sẽ chấm dứt.
Do đó, bên có quyền ban đầu không được tiếp tục yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, ngược lại bên có quyền ban đầu cũng không phải chịu trách nhiệm với bên thế quyền về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên có quyền ban đầu phải thực hiện một số nghĩa vụ đối với bên thế quyền nhằm bảo đảm cho hiệu suất của việc chuyển giao quyền yêu cầu. Cụ thể, bên có quyền ban đầu phải cung cấp thông tin cần thiết cũng như chuyển giao các giấy tờ có liên quan đến quyền yêu cầu cho bên thế quyền. Nếu bên có quyền ban đầu vi phạm các nghĩa vụ đó và gây ra thiệt hại trên thực tế cho bên thế quyền thì phải bồi thường, vì hành 5 Điều 24.
Hệ quả của việc nuôi con nuôi 1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi. 15 vi đó của bên có quyền ban đầu là vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong pháp luật dân sự. Thứ hai, chuyển giao quyền yêu cầu làm phát sinh tư cách chủ thể của bên nhận chuyển giao quyền yêu cầu. Sau khi chuyển giao quyền yêu cầu, bên thế quyền sẽ thế vào vị trí của bên có quyền ban đầu với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ.
Do đó, bên thế quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, bên có nghĩa vụ không được từ chối thực hiện nghĩa vụ đối với bên thế quyền, trừ trường hợp bên có nghĩa vụ không nhận được thông báo và bên thế quyền cũng không chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu. Bên thế quyền được thụ hưởng tất cả các yếu tố phụ đi cùng với quyền yêu cầu (quyền khởi kiện, thỏa thuận trọng tài, thời hiệu, lãi suất. Đồng thời, bên thế quyền cũng phải gánh chịu các ràng buộc mà trước đó bên có quyền ban đầu phải gánh chịu với bên có nghĩa vụ. Thứ ba, sau khi quyền yêu cầu được chuyển giao cho bên thế quyền thì phát sinh quyền đối kháng của người này đối với bên thứ ba.
Đối với các nghĩa vụ có đối tượng là tài sản thì quyền yêu cầu thực chất cũng là quyền tài sản.