Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khủng hoảng đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu không chỉ gây ra những thách thức nghiêm trọng về y tế công cộng mà còn kéo theo "nạn dịch thông tin" (infodemic). Các thông tin sai lệch, tin giả mạo (fake news) lan truyền nhanh chóng và phức tạp trên không gian mạng xã hội (MXH). Tại Việt Nam, vào đầu năm 2022 ghi nhận 76,95 triệu người dùng MXH (chiếm 78,1% dân số), trong đó thanh niên là lực lượng tiêu thụ thông tin chủ yếu với 74% sử dụng từ 4 nền tảng trực tuyến trở lên. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm công chúng có nguy cơ trở thành nạn nhân hoặc chủ thể tiếp tay phát tán tin giả do thiếu kinh nghiệm sàng lọc thông tin.

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền (HVBCTT) là đối tượng người học được đào tạo chuyên sâu về lý luận chính trị, tư tưởng, văn hóa, báo chí và truyền thông. Nhóm sinh viên này được kỳ vọng sở hữu tư duy phản biện, bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng nhận diện thông tin chính xác. Do đó, đề tài "Hành vi ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đối với tin giả về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội hiện nay" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng hành vi, đánh giá các yếu tố tác động và cung cấp căn cứ khoa học hỗ trợ công tác truyền thông phòng chống dịch.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là làm rõ các khía cạnh hành vi ứng xử của sinh viên trước tin giả dịch bệnh Covid-19 trên MXH và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao ứng xử tích cực trên không gian mạng. Đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số khái niệm gồm tin giả, hành vi ứng xử, mạng xã hội, sinh viên và lý thuyết mạng lưới xã hội để thiết kế nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu về hành vi ứng xử của sinh viên trước tin giả Covid-19.
  2. Mô tả, làm rõ thực trạng hành vi ứng xử của từng nhóm sinh viên theo các đặc điểm cá nhân, từ đó rút ra đặc điểm nhận diện trong cách ứng xử của sinh viên HVBCTT trước tin giả Covid-19 trên MXH.
  3. Phân tích số liệu tìm hiểu mối quan hệ giữa đặc điểm về sử dụng MXH, tiếp cận thông tin Covid-19 trên MXH với hành vi ứng xử của sinh viên trước tin giả Covid-19.
  4. Đưa ra các gợi ý khuyến nghị về truyền thông dịch bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống dịch và tạo không gian mạng lành mạnh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đối với tin giả về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên hệ chính quy từ năm nhất đến năm tư (các khóa K41, K40, K39, K38) thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi không gian: Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
    • Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2021 đến tháng 05/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Đề tài dựa trên nền tảng phương pháp luận của Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét hành vi xã hội trong mối quan hệ đa chiều với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và môi trường đào tạo.

  • Khái niệm tin giả và tin giả Covid-19: Kế thừa định nghĩa từ UNESCO (phân định giữa misinformation, disinformation, mal-information), Allcott & Gentzkow (2016), cùng các nghiên cứu trong nước, đề tài xác định tin giả về Covid-19 là những thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng bởi các cơ quan chính thống, tạo ra nhằm mục đích kinh tế, chính trị, xã hội hoặc giải trí, gây tác động tiêu cực đến trật tự xã hội và công tác chống dịch.
  • Khái niệm mạng xã hội và hành vi ứng xử: Vận dụng định nghĩa MXH theo Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ và các tiếp cận xã hội học, tâm lý học (John Watson, Lê Thị Bừng) để định hình hành vi ứng xử như một dạng hành vi xã hội có lựa chọn, chịu sự chế ước của môi trường chuẩn mực.
  • Lý thuyết mạng lưới xã hội (Social Network Theory): Ứng dụng quan điểm của Georg Simmel và Mark Granovetter về "liên kết mạnh" (strong ties - gia đình, bạn thân) và "liên kết yếu" (weak ties - mối quan hệ mở rộng trên MXH) để giải thích cơ chế trao đổi, lan truyền hoặc xác thực thông tin.
  • Cơ sở pháp lý: Nghiên cứu đối chiếu quy định xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP (Điều 101, 102 với mức phạt 10 - 30 triệu đồng) và quy định truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 288 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khung biến số và giả thuyết nghiên cứu

  • Biến độc lập: Đặc điểm cá nhân sinh viên (giới tính, năm học, khối học Nghiệp vụ/Lý luận, chức vụ/tổ chức tham gia, trải nghiệm thực tế với Covid-19); Thực trạng sử dụng MXH và mức độ tiếp cận thông tin/tin giả Covid-19.
  • Biến phụ thuộc: 4 nhóm hành vi ứng xử gồm: (1) Phản ứng và đánh giá ảnh hưởng; (2) Hành vi kiểm chứng; (3) Hành vi tương tác; (4) Hành vi xử lý, kiểm soát và ngăn chặn tin giả.
  • Biến can thiệp: Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội; Hoạt động truyền thông phòng chống dịch; Chủ trương, chính sách quản lý thông tin của Đảng và Nhà nước.
  • Giả thuyết nghiên cứu: Đề tài thiết lập 4 giả thuyết chính xoay quanh tính tích cực trong ứng xử của sinh viên; rào cản ngăn chặn tin giả do sợ ảnh hưởng hoặc thiếu thời gian; vai trò của khối học/chức vụ đoàn thể trong việc tăng cường kiểm chứng; và mối tương quan giữa quy mô mạng lưới bạn bè/nhóm MXH với nguy cơ tương tác tin giả.

Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp định lượng (Ankét): Tổng thể gồm $N = 8.378$ sinh viên chính quy các khóa K38 - K41 (tính đến tháng 03/2022). Cỡ mẫu được xác định theo công thức Taro Yamane là $n = 382$ sinh viên, thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo 8 tổ (kết hợp 4 khóa học và 2 khối ngành Lý luận - Nghiệp vụ). Phiếu khảo sát trực tuyến bằng Google Form được phân phối qua Microsoft Teams và mã số sinh viên.
  • Phương pháp định tính: Phân tích tài liệu thứ cấp và tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) 14 sinh viên đại diện cho các nhóm giới tính, khối ngành, năm học và đều đã từng tiếp xúc với tin giả Covid-19 trên MXH.
  • Xử lý dữ liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 thông qua thống kê mô tả tần suất, tính điểm trung bình (ĐTB), kiểm định Chi-square ($\chi^2$), phân tích tương quan và hồi quy đơn biến. Dữ liệu định tính từ PVS được mã hóa theo chủ đề để minh chứng sâu sắc cho các giả thuyết.
Khóa học Khối đào tạo Số lượng tổng thể Tỷ lệ (%) Cỡ mẫu lấy thực tế (SV)
K41 (Năm 1) Nghiệp vụ 1.212 14,5% 55
K40 (Năm 2) Nghiệp vụ 1.048 12,5% 48
K39 (Năm 3) Nghiệp vụ 952 11,3% 43
K38 (Năm 4) Nghiệp vụ 831 9,9% 39

(Ghi chú: Khối Lý luận các khóa chiếm các tầng mẫu còn lại, đảm bảo cơ cấu tổng mẫu $n = 382$ với tỷ lệ 50,5% khối Lý luận và 49,5% khối Nghiệp vụ).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hoàn thiện hệ thống cơ sở lý thuyết, làm rõ các khái niệm về tin giả, mạng xã hội, hành vi ứng xử và vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội. Về mặt thực tiễn, chương này phác họa bức tranh toàn cảnh về địa bàn khảo sát với 382 sinh viên (68,8% nữ, 31,2% nam; 30,1% từng giữ chức vụ trong Đoàn Thanh niên, Ban cán sự lớp, Ban chấp hành Chi đoàn/Liên chi đoàn; 74,6% bản thân hoặc gia đình đã trải qua từ 4 trường hợp liên quan đến dịch bệnh như diện F0, F1, cách ly, tiêm chủng).

Về thực trạng tiếp cận MXH và thông tin dịch bệnh:

  • 100% sinh viên tham gia khảo sát đều sử dụng MXH, trung bình sở hữu trên 4 tài khoản trực tuyến; Facebook là nền tảng phổ biến nhất (99,7%). Trung bình mỗi sinh viên kết nối khoảng 500 bạn bè và theo dõi khoảng 10 hội nhóm/fanpage.
  • 99,5% sinh viên có tiếp cận thông tin Covid-19 trong vòng 12 tháng, trên 50% tiếp cận ở mức độ rất thường xuyên. Kênh tiếp cận hàng đầu là Fanpage chính thống thuộc cơ quan chức năng, quản lý (75,5%), tiếp theo là gia đình/người thân (66,3%) và bạn bè/đồng nghiệp (51,6%).
  • 94,5% sinh viên (361/382 người) từng tiếp cận tin giả Covid-19 trên MXH với tần suất ĐTB đạt 3,3/5 điểm. Nền tảng ghi nhận xuất hiện tin giả nhiều nhất là Facebook (88,6%), Tiktok (4,6%), Zalo (0,6%) và Instagram (0%).
  • 3 cơ chế lan truyền tin giả được sinh viên xác nhận gồm: Cơ chế tương tác cá nhân/thiên kiến (95,3% đồng ý hành vi like/share/comment làm phát tán tin giả), cơ chế "cộng đồng chia sẻ" (87,0%) và cơ chế "nghe nhiều thành đúng" (77,6%).
  • Hai nhóm nội dung tin giả phổ biến nhất là: Phương pháp điều trị không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế (ĐTB 3,58/5) và Diễn biến dịch bệnh tại các điểm nóng (ĐTB 3,37/5).
  • Nguyên nhân xuất hiện tin giả được chỉ ra chủ yếu do sự thiếu hiểu biết cách sử dụng, khai thác thông tin/phương tiện truyền thông của công chúng (79,4%), động cơ trục lợi/quảng bá (50,8%) và âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước (47,3%).
Kênh tiếp cận thông tin Covid-19 trên MXH Tỷ lệ sinh viên lựa chọn (%)
Fanpage chính thống thuộc cơ quan chức năng, quản lý 75,5%
Gia đình, người thân 66,3%
Bạn bè, đồng nghiệp 51,6%
Hội nhóm, fanpage trong nước 41,1%
Thầy cô, fanpage thuộc HVBCTT 19,7%
Trang cá nhân, fanpage quốc tế 10,0%
Người có sức ảnh hưởng tại Việt Nam 7,4%

Chương 2. Thực trạng hành vi ứng xử đối với tin giả về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chương 2 phân tích chuyên sâu dữ liệu từ 361 sinh viên từng tiếp xúc với tin giả Covid-19 trên MXH:

  • Phản ứng trước tin giả: Khác với một số nghiên cứu trước đây ghi nhận xu hướng "bình thường hóa" chiếm ưu thế, sinh viên HVBCTT thể hiện thái độ cảnh giác cao: 33,5% cảm thấy thêm nghi ngờ/mất niềm tin vào các tin tức khác; 28,3% cảm thấy lo lắng, bất an, hoang mang; chỉ có 19,7% cảm thấy bình thường và 17,5% cho rằng không ảnh hưởng đến cá nhân.
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của tin giả (thang điểm 0 - 5): Sinh viên nhận thức rõ rệt các tác hại tiêu cực của tin giả, trong đó mức độ gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho xã hội được đánh giá cao nhất (ĐTB 4,23/5; 55,4% nhận định rất nghiêm trọng), tiếp theo là tạo cơ hội đầu cơ tích trữ hàng hóa (ĐTB 4,14/5), trốn cách ly/khai báo không trung thực (ĐTB 4,11/5), tự điều trị sai cách (ĐTB 4,07/5), gia tăng chống phá (ĐTB 4,06/5) và suy giảm niềm tin vào công tác chống dịch của Chính phủ (ĐTB 3,91/5).
Nhận định về ảnh hưởng của tin giả Covid-19 đến công chúng ĐTB (thang 5) Rất nghiêm trọng (%) Nghiêm trọng (%) Không/Ít ảnh hưởng (%)
Gây tâm lý lo lắng, hoang mang, bất an 4,23 55,4% 24,7% 19,9%
Tạo cơ hội đầu cơ tích trữ mặt hàng thiết yếu 4,14 47,9% 30,2% 21,9%
Trốn cách ly, không khai báo y tế trung thực 4,11 47,1% 29,6% 23,3%
Tự mua thuốc/điều trị bệnh, không hợp tác y tế 4,07 44,6% 31,0% 24,4%
Gia tăng tung tin sai lệch, chống phá Đảng, Nhà nước 4,06 41,0% 35,7% 23,3%
Suy giảm niềm tin với công tác phòng chống dịch/Chính phủ 3,91 41,8% 26,9% 31,3%
  • Hành vi khi tiếp nhận thông tin: 81,7% sinh viên chủ động kiểm tra nguồn/kênh đưa tin; 80,9% kiểm tra nội dung thông điệp; 69,8% chủ động nghi ngờ tin nhận được; 65,1% so sánh đối chiếu đa nguồn; 61,5% kiểm tra liên kết/trích dẫn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại thói quen bất lợi như đọc tiêu đề rồi lướt qua (56,8%), tin tưởng bài viết có nhiều lượt tương tác (23,0%) và chia sẻ/chuyển tiếp ngay lập tức (20,8%).
  • Hành vi kiểm chứng thông tin: 83,9% sinh viên (303/361 người) chủ động kiểm tra lại các thông tin nghi ngờ. Các nguồn kiểm chứng được tin cậy cao nhất là: Truyền thông đại chúng (93,4%), Fanpage chính thống của cơ quan chức năng (91,1%), cơ quan chức năng/chính quyền địa phương (79,2%) và trao đổi trực tiếp với bạn bè/gia đình (71,3%).
  • Lý do không kiểm chứng (chiếm 16,1% tổng số): Nguyên nhân chủ yếu do không biết phương thức xác thực qua đâu (32,8%), thiếu thời gian (22,4%), không quan tâm thông tin dịch bệnh (20,7%), thiếu nguồn tin cậy (19,0%) và 5,2% chủ quan cho rằng bản thân tự nhận biết được tin giả nên không cần kiểm tra.
  • Tương quan phản ứng và kiểm chứng: Kiểm định cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa phản ứng tâm lý và hành động thực tế: 65,3% sinh viên có phản ứng lo lắng/nghi ngờ đã thực hiện kiểm chứng thông tin, cao hơn nhiều so với nhóm có thái độ thờ ơ/bình thường.
  • Hành vi tương tác và xử lý, ngăn chặn tin giả: Đa số sinh viên lựa chọn các biện pháp an toàn như không tương tác, xóa bài hoặc báo cáo vi phạm (report); một tỷ lệ tham gia đính chính thông tin riêng tư cho người thân, bạn bè thay vì tranh luận công khai trên mạng xã hội.

Chương 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đối với tin giả về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội

Chương 3 tập trung kiểm định các mô hình tương quan và hồi quy giữa biến độc lập và biến phụ thuộc:

  • Ảnh hưởng từ đặc điểm cá nhân: Phân tích sự khác biệt theo giới tính (nữ sinh viên có xu hướng cẩn trọng hơn trong kiểm chứng), năm học và khối ngành đào tạo. Sinh viên khối Nghiệp vụ (báo chí, truyền thông) và sinh viên giữ các vị trí cán bộ Đoàn, Ban cán sự lớp có điểm trung bình thực hiện các hành động ngăn chặn tin giả và kỹ năng kiểm chứng nguồn tin cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại.
  • Ảnh hưởng từ hành vi sử dụng MXH: Số lượng tài khoản MXH sở hữu và quy mô mạng lưới bạn bè/nhóm tham gia tỷ lệ thuận với tần suất tiếp xúc tin giả, đồng thời làm tăng xác suất tương tác vô thức với các bài viết sai lệch.
  • Mức độ tiếp cận thông tin dịch bệnh: Sinh viên thường xuyên theo dõi các kênh thông tin chính thống thể hiện năng lực sàng lọc tin giả tốt hơn và có mức độ sẵn sàng tham gia công khai đính chính tin sai sự thật cao hơn.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh định lượng rõ nét về hành vi ứng xử của sinh viên báo chí - truyền thông: 94,5% từng tiếp xúc tin giả Covid-19 trên MXH; 83,9% chủ động thực hiện hành vi kiểm chứng khi gặp tin đáng ngờ; 93,4% dựa vào báo chí chính thống và 91,1% dựa vào fanpage cơ quan chức năng để xác thực.
  • Bác bỏ nhận định cho rằng giới trẻ hoàn toàn rơi vào xu hướng "bình thường hóa" hay thờ ơ trước tin giả: Tỷ lệ sinh viên HVBCTT giữ phản ứng nghi ngờ/lo lắng đạt trên 61%, thúc đẩy trực tiếp đến hành vi kiểm chứng thông tin.
  • Nhận diện 3 cơ chế lan truyền tin giả cốt lõi trên không gian mạng: Tương tác cá nhân dẫn dắt bởi thuật toán công nghệ (95,3%), niềm tin từ cộng đồng chia sẻ (87,0%) và cơ chế tâm lý nghe nhiều thành đúng (77,6%).

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các nhóm khuyến nghị:

  • Đối với cơ quan quản lý và các kênh truyền thông chính thống: Nâng cao tốc độ phản hồi, phủ sóng thông tin kịp thời trên các nền tảng MXH phổ biến (đặc biệt là Facebook, TikTok) để thu hẹp khoảng trống thông tin; minh bạch hóa các hướng dẫn y tế và tình hình dịch bệnh.
  • Đối với cơ sở đào tạo (Học viện Báo chí và Tuyên truyền): Tăng cường tích hợp các chuyên đề kỹ năng số, phương pháp kiểm chứng thông tin (fact-checking), nâng cao đạo đức truyền thông và phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ Đoàn - Hội, sinh viên khối nghiệp vụ trong việc định hướng dư luận mạng.
  • Đối với bản thân sinh viên: Hình thành thói quen đọc sâu thay vì đọc lướt tiêu đề; thận trọng trước khi tương tác (like, share, comment); chủ động sử dụng các công cụ báo xấu (report) và chia sẻ nguồn tin chính thống cho mạng lưới liên kết thân thiết.

Đóng góp khoa học

  • Về mặt lý luận: Bổ sung nguồn tài liệu thực chứng trong Xã hội học truyền thông và Xã hội học thanh niên về hành vi ứng xử trước tin giả y tế/dịch bệnh, vận dụng thành công lý thuyết mạng lưới xã hội (Social Network Theory) để giải thích cơ chế lan truyền và kiểm chứng tin giả.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống dữ liệu khảo sát tin cậy giúp các cơ quan quản lý báo chí, ban tuyên giáo và nhà trường xây dựng chiến lược truyền thông định hướng giới trẻ trong các tình huống khủng hoảng xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Khách thể nghiên cứu giới hạn trong phạm vi sinh viên hệ chính quy tại một cơ sở đào tạo đặc thù (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), nơi sinh viên có nền tảng lý luận và nghiệp vụ truyền thông cao hơn mặt bằng chung, do đó tính đại diện cho toàn thể giới trẻ hoặc sinh viên cả nước còn hạn chế.
    • Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra trong điều kiện dịch bệnh phức tạp (12/2021 - 05/2022), phải tiến hành khảo sát trực tuyến qua bảng hỏi Google Form nên khả năng kiểm soát tương tác trực tiếp với người trả lời còn một số khó khăn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh đa trường (giữa khối trường khoa học xã hội, khối tự nhiên, kinh tế, y dược); đi sâu phân tích mô hình hồi quy đa biến về các yếu tố tâm lý xã hội định hình hành vi ngăn chặn tin giả trên không gian mạng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học, Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Công tác xã hội và Quản lý văn hóa - tư tưởng.
    • Cán bộ quản lý thông tin truyền thông, ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh, chuyên viên truyền thông chính sách tại các cơ quan ban ngành.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Thao tác hóa khái niệm và hệ thống chỉ báo đo lường hành vi ứng xử trước tin giả trên mạng xã hội.
    • Phương pháp thiết kế mẫu phân tầng kết hợp bảng hỏi định lượng ($n=382$) và phỏng vấn sâu ($n=14$) xử lý qua SPSS 20.0.
    • Bộ số liệu thực chứng chi tiết về tỷ lệ tiếp cận, cơ chế phát tán, nguồn kiểm chứng và các bảng tương quan thống kê về hành vi người dùng mạng xã hội tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài khảo sát bao nhiêu sinh viên và cơ cấu mẫu được phân bổ như thế nào?

Khóa luận tiến hành khảo sát định lượng trên mẫu gồm 382 sinh viên chính quy thuộc 4 khóa (K38 đến K41) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền dựa trên công thức Taro Yamane từ tổng thể 8.378 sinh viên. Mẫu được phân tầng ngẫu nhiên thành 8 tổ theo khóa học và 2 khối ngành: 50,5% khối Lý luận và 49,5% khối Nghiệp vụ. Về giới tính, nữ sinh viên chiếm 68,8% (263 người) và nam sinh viên chiếm 31,2% (119 người). Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 14 sinh viên.

Tỷ lệ sinh viên từng tiếp xúc với tin giả Covid-19 và nền tảng nào xuất hiện nhiều nhất?

Trong tổng số sinh viên khảo sát có tiếp cận tin tức dịch bệnh, 94,5% (tương ứng 361 sinh viên) cho biết đã từng bắt gặp tin tức về dịch bệnh trên MXH và sau đó phát hiện là tin giả, với tần suất tiếp xúc đạt điểm trung bình 3,3/5. Nền tảng ghi nhận xuất hiện tin giả nhiều nhất là Facebook (88,6%), theo sau là TikTok (4,6%) và Zalo (0,6%).

Những nguồn thông tin nào được sinh viên tin tưởng nhất để kiểm chứng tin giả?

Khi gặp thông tin nghi ngờ, 83,9% sinh viên thực hiện kiểm chứng và ưu tiên lựa chọn các nguồn chính thống: Truyền thông đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình) chiếm tỷ lệ cao nhất với 93,4%; Fanpage chính thống thuộc cơ quan chức năng, quản lý nhà nước đạt 91,1%; liên hệ trực tiếp cơ quan chức năng/chính quyền chiếm 79,2%; và trao đổi với bạn bè, gia đình chiếm 71,3%.

Sinh viên đánh giá tác hại nào của tin giả Covid-19 là nghiêm trọng nhất?

Trong thang điểm đánh giá từ 0 đến 5, tác hại "Gây tâm lý lo lắng, hoang mang, bất an trong công chúng" được sinh viên đánh giá cao nhất với ĐTB 4,23/5 (trong đó 55,4% đánh giá ở mức rất nghiêm trọng). Xếp tiếp theo là việc tạo cơ hội cho đối tượng xấu đầu cơ tích trữ hàng hóa thiết yếu (ĐTB 4,14/5) và xúi giục trốn cách ly, khai báo y tế không trung thực (ĐTB 4,11/5).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng tiếp nhận và xử lý thông tin dịch bệnh Covid-19 của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khẳng định 83,9% người học có ý thức kiểm chứng chủ động dựa trên các nguồn tin báo chí chính thống. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý luận mạng lưới xã hội và dữ liệu định lượng ($n=382$) xử lý qua SPSS, công trình chỉ rõ các cơ chế lan truyền tin giả và sự chi phối của khối ngành đào tạo, vai trò đoàn thể đến hành vi ứng phó trên không gian mạng. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị thực tiễn cao cho công tác đào tạo kỹ năng số và truyền thông định hướng dư luận trong bối cảnh khủng hoảng thông tin.