Chương 1. THỰC TRẠNG HÀNH VI ỨNG XỬ ĐỐI VỚI TIN GIẢ VỀ DỊCH BỆNH COVID-19 TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN. Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền phản ứng trước tin giả và đánh giá ảnh hưởng của tin giả Covid-19 trên mạng xã hội. Hành vi kiểm chứng thông tin Covid-19 trên mạng xã hội của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Hành vi tương tác với tin giả Covid-19 trên mạng xã hội của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Hành vi xử lý, kiểm soát tin giả Covid-19 trên mạng xã hội của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền. 49 Tiểu kết chương 2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI ỨNG XỬ CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ĐỐI VỚI TIN GIẢ VỀ DỊCH BỆNH COVID-19 TRÊN MẠNG XÃ HỘI.
Đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến hành vi ứng xử trước tin giả Covid-19 trên mạng xã hội. Yếu tố sử dụng mạng xã hội và tiếp cận thông tin Covid-19 trên mạng xã hội ảnh hưởng đến hành vi ứng xử trước tin giả Covid-19. 76 Tiểu kết chương 3. 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
99 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT TỪ VIẾT TẮT GIẢI THÍCH 1 MXH Mạng xã hội 2 SV Sinh viên 3 HVBCTT Học viện Báo chí và Tuyên truyền 4 NTL Người trả lời 5 ĐTB Điểm trung bình 6 PVS Phỏng vấn sâu DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1. Chọn mẫu phân tầng HVBCTT. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của tin giả Covid-19 trên MXH. Mối quan hệ giữa giới tính SV và các hoạt động khi tiếp cận thông tin Covid-19 trên MXH.
Mối tương quan giữa giới tính SV và hành vi tương tác với tin giả Covid-19 trên MXH. ĐTB đánh giá số lượng có hành động ngăn chặn tin giả Covid-19 phân tích theo giới tính SV. Mối quan hệ giữa giới tính SV với lý do không ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH. Mối quan hệ giữa hai kênh thông tin Covid-19 SV thường tiếp cận trên MXH với loại hành động ngăn chặn tin giả.
Mức độ phổ biến các nội dung tin giả Covid-19 trên MXH. ĐTB đánh giá mức độ cần thiết của các hoạt động kiểm soát lan truyền tin giả trên MXH phân tích theo đặc điểm năng động của SV. ĐTB thường xuyên tiếp cận tin giả Covid-19 phân tích theo số lượng MXH SV sở hữu. ĐTB đánh giá ảnh hưởng của tin giả và sự sẵn sàng công khai đính chính tin giả phân tích theo mức độ tiếp cận tin giả Covid-19 của SV.
ĐTB đánh giá mức độ cần thiết của các hoạt động kiểm soát lan truyền tin giả trên MXH phân tích theo mức độ tiếp cận tin giả Covid-19. 109 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, MÔ HÌNH Biểu đồ 1. Tỷ lệ năm học HVBCTT. Kênh tiếp cận thông tin Covid-19 trên MXH của SV.
Tần suất các MXH lan truyền tin giả Covid-19. Nguyên nhân xuất hiện tin giả Covid-19 trên MXH. Phản ứng của SV trước tin giả Covid-19 trên MXH. Hành vi khi tiếp cận thông tin Covid-19 trên MXH của SV.
Nguồn kiểm chứng thông tin Covid-19 của SV. Lý do SV không kiểm tra thông tin Covid-19 trên MXH. Mối quan hệ giữa phản ứng trước tin giả và hành vi kiểm chứng thông tin Covid-19 trên MXH của SV. Tỷ lệ tương tác với tin giả Covid-19 của SV.
Hình thức tương tác với tin giả Covid-19 của SV. Phản ứng của bạn bè khi SV tương tác với tin giả Covid-19. Tỷ lệ ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH của SV. Lý do không ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH của SV.
Hành động ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH của SV. Lý do ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH của SV. Tần suất số điểm SV đánh giá sẵn sàng tham gia ngăn chặn tin giả Covid-19 công khai trên MXH. Mối quan hệ SV tham gia ngăn chặn tin giả và hành động sẵn sàng công khai đính chính tin giả Covid-19 trên MXH.
Mức độ quan trọng của các hoạt động kiểm soát sự lan truyền tin giả Covid-19 theo SV. ĐTB số lượng các hành động ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH phân theo khối học của SV. Mối quan hệ giữa năm học và phản ứng trước tin giả Covid-19 trên MXH của SV. Mối quan hệ giữa đặc điểm tham gia chức vụ/tổ chức và phản ứng trước tin giả Covid-19 trên MXH của SV.
Hồi quy đơn biến mối quan hệ giữa sự tham gia chức vụ/tổ chức của SV và hành động ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH. Tương quan đặc điểm tham gia công tác phòng chống dịch của SV với hành vi kiểm chứng và ngăn chặn tin giả Covid-19 trên MXH. Tương quan giữa dặc điểm cần trì hoãn/thận trọng tiêm vaccine và hành vi tương tác với tin giả Covid-19 trên MXH. Tương quan giữa dặc điểm liên quan đến F0 và hành vi cảnh báo tin giả Covid-19 trong các nhóm trên MXH của SV.
Mối quan hệ giữa số lượng MXH sở hữu và phản ứng trước tin giả Covid-19 của SV. Mối quan hệ giữa số lượng bạn bè trên MXH và 2 chỉ báo về hành vi tương tác, lý do không ngăn chặn tin giả Covid-19 của SV. Mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận tin giả với hành vi đã từng tương tác với tin giả Covid-19 trên MXH của SV. Tính cấp thiết Phát biểu tại Hội nghị An ninh Munich vào ngày 15/02/2020, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới – Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus đã ghi nhận một trong những cuộc chiến song song cùng với đại dịch Covid-19 là chống lại thông tin sai lệch và thiếu thông tin.
Ông thừa nhận, “Chúng ta không chỉ chiến đấu với dịch bệnh, chúng ta còn đang chiến đấu với bệnh dịch về thông tin. Tin tức giả mạo lan truyền nhanh, dễ dàng hơn virus và nguy hiểm không kém” [89]. Khủng hoảng Covid-19 lan rộng đã khiến gia tăng hiểm họa về “nạn dịch thông tin” (infodemic) không khác một căn bệnh truyền nhiễm, cản trở hiệu quả trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Ảnh hưởng ở phạm vi toàn cầu, Covid-19 trở thành chủ đề được quan tâm hàng đầu, điển hình như ngày 11/03/2020 có tới 19 triệu lượt truy cập trên các phương tiện truyền thông xã hội, trang web tin tức liên quan đến Covid-19 chỉ trong 24 giờ kể từ khi Mỹ xuất hiện trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng đầu tiên [83].
Còn tại Việt Nam, sau khi ca nhiễm Covid-19 đầu tiên được phát hiện vào ngày 23/01/2020, xu hướng tìm kiếm trên các web chứa từ “corona” đạt đỉnh và không có dấu hiệu hạ nhiệt trong suốt 7 ngày sau đó [11]. Chính trong bối cảnh khủng hoảng thông tin như vậy, tin giả có cơ hội lan rộng khắp thế giới, đặc biệt trên các trang mạng xã hội (MXH). Trong cuốn “Likeable social media” (Phương tiện truyền thông xã hội thú vị), Dave Kerpen (2011) có viết: “Bạn có thể cập nhật trạng thái trên Facebook và chỉ với một cú nhấp chuột, bạn đã chia sẻ một câu chuyện hay một thông tin tới hàng trăm hoặc nghìn người. Bản chất không khác so với 5 năm trước nhưng về tốc độ và quy mô khán giả mà bạn phổ biến thông tin là tăng lên rất nhiều” [58, tr.
Năm 2022 có tới 4,62 tỷ người dùng MXH trên khắp thế giới, bằng 58,4% tổng dân số, tăng hơn 10% trong 12 tháng qua [69]. Điều này càng khẳng định “tiềm năng” của MXH trong việc lan truyền, đưa tin giả tiếp cận tới nhiều người, nhiều nơi nhưng chỉ trong một thời điểm. 2 Hơn hai năm qua, mặc dù chưa có thống kê chính xác số lượng tin giả Covid-19 xuất hiện trên MXH nhưng chỉ trong những tháng đầu năm 2020 – thời điểm dịch bệnh bắt đầu bùng phát ở nước ta, cơ quan chức năng đã phải xử lý hơn 300 đối tượng trong nước tung tin giả về Covid-19 trên không gian mạng [81]. Việt Nam không chỉ đảm bảo hiệu quả công tác phòng chống dịch về mặt y tế, sức khỏe mà còn phải ứng phó và tăng cường nguồn thông tin chính xác, kịp thời đến người dân.
Những hành vi ứng xử tích cực của công chúng trước tin giả Covid-19 sẽ là liều “vaccine” hữu hiệu, hạn chế sự lan truyền mạnh mẽ của tin giả trên MXH, bởi đây là kênh thông tin được đông đảo công chúng đón nhận, đặc biệt là nhóm thanh niên. Một mặt, được đánh giá là thế hệ trẻ năng động, đầy nhiệt huyết, dễ dàng tiếp thu cái mới; mặt khác GS. Đặng Cảnh Khanh còn coi thanh niên là đối tượng “nhạy cảm, ít kinh nghiệm và dễ bị kích động, sa ngã trong việc tiếp nhận truyền thông” [21, tr. Thanh niên Việt Nam là đối tượng chiếm ưu thế tại “thị trường” tiêu thụ thông tin của các trang MXH với 74% có mặt ở khắp mọi nơi và tích cực sử dụng từ 4 nền tảng trở lên [56] nhưng tình trạng tin giả trên không gian mạng tiềm ẩn nguy cơ khiến họ có thể trở thành nạn nhân, thậm chí là thủ phạm tung tin giả.
Trước thực trạng này, tác giả cho rằng việc nghiên cứu sự tiếp cận, ứng xử với tin giả Covid-19 của đối tượng thanh niên rất cấp thiết. Là một phần của thế hệ thanh niên ngày nay, sinh viên (SV) Học viện Báo chí và Tuyên truyền (HVBCTT) được kỳ vọng có một lối ứng xử văn minh, tỉnh táo đánh giá các vấn đề xã hội; đặc biệt khi Học viện nổi bật với chức năng đào tạo và bồi dưỡng về lý luận chính trị, tuyên giáo, xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, tuyên truyền, báo chí, truyền thông, là cơ sở nghiên cứu khoa học về lý luận,. Chính các lý do trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu khoa học về “Hành vi ứng xử của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đối với tin giả về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội hiện nay” nhằm tìm hiểu và phân tích rõ ứng xử của người học trước vấn nạn tin giả trong bối cảnh “đại dịch thông tin”, góp phần nâng cao ứng xử tích cực của SV trước tin giả trên MXH và truyền thông dịch bệnh hiệu quả. Tổng quan nghiên cứu 2.
Hướng nghiên cứu về sử dụng mạng xã hội và tiếp cận thông tin dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội 2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội 78,1% là tỷ lệ người dùng MXH tại Việt Nam vào đầu năm 2022 so với tổng dân số [70], các năm qua nước ta và cả thế giới chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của MXH về số lượng tham gia. Điều này rõ ràng được khẳng định từ nghiên cứu khoa học tới thực tiễn.