Hành Vi Pháp Lý Trong Luật Dân Sự: Khái Niệm và Phân Loại

Khám phá nội dung chương IV về hành vi pháp lý trong giáo trình luật dân sự phần chung, cung cấp kiến thức pháp lý cần thiết cho sinh viên.

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình
51
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

4. CHƯƠNG 4: HÀNH VI PHÁP LÝ

4.1. Khái niệm và phân loại hành vi pháp lý

4.2. Các nguyên tắc của hành vi pháp lý

4.3. Biểu lộ ý chí

4.4. Giao kết hợp đồng

4.5. Điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý và vô hiệu hóa hành vi pháp lý

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ (Phần chung) Chương IV HÀNH VI PHÁP LÝ Người viết: PGS. Ngô Huy Cương Trường Đại học Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội KẾT CẤU CHƯƠNG IV Nhập chương Mục 1- Khái niệm và phân loại hành vi pháp lý Mục 2- Các nguyên tắc của hành vi pháp lý Mục 3- Biểu lộ ý chí Mục 4- Giao kết hợp đồng Mục 5- Điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý và vô hiệu hóa hành vi pháp lý Nhập chương Phần chung hay quyển chung của các Bộ luật Dân sự được pháp điển hóa theo mô hình Bộ luật Dân sự Đức (trường phái Pandectists) luôn có một chương về hành vi pháp lý hay giao dịch pháp lý để nói tới một loại nguồn gốc (căn cứ) phổ biến nhất và quan trọng nhất làm phát sinh ra hệ quả pháp lý của luật tư. Bộ luật Dân sự Pháp (1804 và hiện hành), theo mô hình của Gaius, chia nội dung của nó thành ba quyển để lần lượt nói về người, về tài sản, và về hành vi cũng như sự kiện, trong khi đó Bộ luật Dân sự Đức (1900 và hiện hành) chia nội dung của nó thành năm quyển để lần lượt nói về phần chung, về luật nghĩa vụ, về luật tài sản, về luật gia đình và về luật thừa kế. Phần chung của Bộ luật Dân sự Đức thể hiện rõ nét nhất thành tựu của trường phái Pandectists, phản ánh mức độ trừu tượng hóa rất cao của những cuộc tranh luận khoa học chi tiết, bền bỉ trong 1 quá trình xây dựng Bộ luật này và là một dấu ấn rõ ràng nhất về bản chất khoa học của Bộ luật này1. Cho đến nay, Việt Nam đã có tới bảy Bộ luật Dân sự: Bộ luật Dân sự Giản yếu 1886; Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931; Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936; Bộ luật Dân sự của Việt Nam Cộng hòa 1972; Bộ luật Dân sự 1995; Bộ luật Dân sự 2005; và Bộ luật Dân sự 2015. Bốn Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ nói trên được xây dựng theo mô hình Pháp. Ba Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nói trên được xây dựng theo mô hình Đức có đan xen với nhiều yếu tố của mô hình Pháp. Việc lựa chọn mô hình luôn là vấn đề quan trọng trong pháp điển hóa. Tranh luận khoa học là rất cần thiết và không thể tránh khỏi trong quá trình lựa chọn mô hình, xây dựng mô hình và soạn thảo cũng như thông qua Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên việc xây dựng các Bộ luật Dân sự ở Việt Nam dường như thiếu thốn sự tranh luận khoa học thực sự. Do đó chúng ta khó có thể tìm kiếm được những tài liệu thể hiện rõ lý do tại sao chúng ta đã lựa chọn hay xây dựng mô hình pháp điển hóa luật dân sự như hiện nay để lý giải cho ý đồ và quan niệm liên quan tới chương nói về hành vi pháp lý (giao dịch dân sự) trong các Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015. Hành vi pháp lý phản ánh tự do cá nhân của con người2, và là một vấn đề pháp lý trung tâm, rất rộng lớn, chuyên biệt và đầy kỹ thuật pháp lý. Vì vậy trong thực tiễn pháp điển hóa cũng như trong việc giới thiệu hay nghiên cứu về hành vi pháp lý ở phần chung hay quyển chung của luật dân sự, người ta khó nhất trí với nhau hoàn toàn về việc xác định phạm vi của nó. Thông thường chương nói về hành vi pháp lý của phần chung hay của quyển chung của Bộ luật Dân sự đề cập tới những vấn đề lớn như: Hành vi pháp lý là gì và được phân loại như thế nào? Làm thế nào để xác lập được một hành vi 1 Sir Basil Markesinis, Hannes Unberath, and Angus Johnston, The German Law of Contract- A Comparative Treatise, Second Edition, Hart Publishing, Oxford and Portland, Oregon, 2006, pp. 2 Sir Basil Markesinis, Hannes Unberath, and Angus Johnston, The German Law of Contract- A Comparative Treatise, Second Edition, Hart Publishing, Oxford and Portland, Oregon, 2006, p. 2 pháp lý và cấp cho nó một hiệu lực? Tại sao nó bị vô hiệu và hậu quả của vô hiệu là gì? Thế nhưng những câu hỏi như vậy khó có thể có câu trả lời đủ bao quát bởi mối liên hệ nội tại và khăng khít của chúng với các vấn đề khác về nội dung và về sự thúc buộc của hành vi pháp lý nói chung và của mỗi loại hành vi pháp lý nói riêng… Vì vậy chương giáo trình này cố gắng tách bạch như có thể để chuyển tải các câu trả lời cho các câu hỏi trên một cách đầy đủ nhất như có thể. Mục 1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HÀNH VI PHÁP LÝ 1. Khái niệm hành vi pháp lý Quy tắc pháp luật thường được cấu tạo bởi một công thức tư duy chung- đó là “nếu…, thì…”, tức là nếu có một nguồn gốc pháp lý hay một căn cứ pháp lý, thì sẽ làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý nào đấy. Ví dụ: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.” (Điều 72, khoản 1, Bộ luật Dân sự 2015); “Trường hợp theo thỏa thuận, bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán thực hiện không đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến lần vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” (Điều 436, khoản 2, Bộ luật Dân sự 2015); “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Nguồn gốc pháp lý mà ở Việt Nam thường được gọi là căn cứ pháp lý đôi khi còn được gọi là điều kiện pháp lý. Luật La Mã tổng kết có năm nguồn gốc làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ (một loại hệ quả pháp lý), bao gồm: hợp đồng; 3 chuẩn hợp đồng hay gần như hợp đồng; vi phạm; chuẩn vi phạm hay gần như vi phạm3; và nghĩa vụ pháp định4. Lưu ý: nghĩa vụ nói ở đây là một quan hệ pháp lý (quan hệ đối nhân) mà theo đó một bên (người có quyền hay trái chủ) có quyền yêu cầu bên kia (người có nghĩa vụ hay người thụ trái) phải thực hiện một đối tượng nào đó có thể trị giá được bằng tiền vì lợi ích của người có quyền. Gaius từ xưa đã có sự phân biệt giữa “hành vi tự nguyện” và “hành vi không tự nguyện” để sử dụng có hệ thống và từ đó kéo theo hai loại quy tắc pháp lý khác nhau để áp dụng cho việc thực hiện lời hứa và những hành vi sai trái5. Ngày nay, khoa học pháp lý thường nhắc tới ba căn cứ làm phát sinh ra hệ quả pháp lý nói chung, bao gồm: (1) hành vi pháp lý; (2) sự kiện pháp lý; và (3) hiệu lực của pháp luật. Cách phân loại thứ hai này xuất hiện rõ hơn trong pháp điển hóa luật dân sự theo trường phái Pandectists (trường phái pháp điển hóa hiện đại) mà điển hình là Bộ luật Dân sự Đức, Bộ luật Dân sự Hy Lạp và Bộ luật Dân sự Nhật Bản… hiện hành. Giáo sư (Đức) Friedrich Carl von Savigny là người đầu tiên đưa ra học thuyết bao quát về hành vi pháp lý mà tại đó quan niệm rằng một người có thể chỉ bởi ý chí của mình làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý với người khác hoặc với vật6. Hành vi pháp lý là sự biểu lộ ý chí của con người dự định làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý được thừa nhận bởi pháp luật7. Hành vi pháp lý được chia thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên không phải bất kỳ sự biểu lộ ý chí nào dự định làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý đều được thừa nhận bởi pháp luật. Thông thường pháp luật đặt ra các điều kiện hoặc đòi hỏi 3 Andrew Borkowski & Paul du Plessis, Textbook on Roman Law, Third Edition, Oxford University Press, 2005, p. 4 Xem Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo, Quyển II- Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 5 Xem Reinhard Zimmerman, The Law of Obligations- Roman Foundations of the Civilian Tradition, Oxford University Press, 1996, pp. 6 Lưu ý: “Vật” nói ở đây là một phạm trù của luật dân sự chỉ những bộ phận khác nhau của thế giới vật chất mà đã được quan hệ xã hội hóa và có thể đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Schuster, The Principles of German Civil Law, Oxford at the Clarendon Press, London and New York, 1907, p. 4 sự biểu lộ phải được bổ sung thêm bởi một hoặc một số hành động nhất định (ví dụ: hành động chuyển giao tài sản hoặc đăng ký…). Sự kiện pháp lý là sự kiện làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý ngoài ý chí của đương sự (ví dụ: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…). Hiệu lực của luật là việc làm phát sinh ra hệ quả pháp lý bởi ý chí của nhà làm luật (Ví dụ: thủ đắc quyền sở hữu do thời hiệu hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng…). Hành vi pháp lý (juridical act) khác với sự kiện pháp lý (juridical fact) ở mấy điểm chủ yếu sau: hành vi pháp lý là hành vi có tính tự nguyện mà phải được chứng minh và có thể bị chấm dứt nếu có khuyết tật (tì ố hay hà tì) hoặc vi phạm qui tắc bắt buộc của pháp luật, trong khi đó sự kiện pháp lý xảy ra (ngoài ý muốn) và được xem xét bởi pháp luật, và không chấm dứt8. Hành vi pháp lý được Bộ luật Dân sự 2015 gọi là “giao dịch dân sự”, và còn được khoa học pháp lý gọi là “giao dịch pháp lý”. Từ “giao dịch” trong cuộc sống thường nhật được dùng để chỉ một loại hoạt động sống của con người mà tại đó người ta gặp gỡ nhau một cách trực tiếp hoặc thông qua một phương tiện giao tiếp nào đó để trao đổi, bàn thảo với nhau về một vấn đề nào đó, nhất là trong kinh doanh, thương mại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ