Chương 1 KHÁI QUÁT VE QUYEN CON NGƯỜI VA HAN CHE QUYEN CON NGƯỜI 111. Khái quát về quyền con người Bảo về con người là giá tri cốt lối của khái niệm quyển con người. Nó coi cá nhân mỗi con người 1a trong tâm của su phat triển của xã hội. Mục tiêu cuối.
cũng là giải phóng con người. Khải niệm quyền con người dựa trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biển tạo ra một khuôn khổ pháp ly để xây dựng các hệ thống, quyển con người được các quy phạm va tiêu chuẩn quốc tế va quốc gia bảo vệ. Định nghia quyén con người Quyên con người (human rights) là một phạm tra rất rộng va rất khó để định ngiữa. Theo tai liêu Hai Đáp vé Nhân quyển của Liên hợp quốc (United Nations: Human rights: Questions and Answers) thi có đến gin 50 định nghĩa quyển con người được công bó.
Tuy nhiên, co thé thay quyền con người được. được định nghĩa khác nhau néu nhìn nhân từ những góc độ khác nhau. Dua trên quan điểm quyển con người la các quyền pháp lý (egal rights), ‘Van phòng Cao uỷ Liên hợp quốc định nghia: “Quyền con người được hiểu la những dam bao pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bão vệ các cả nhân va các nhóm chồng lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) lam tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) va sự tự do cơ ban (fundamental freedoms) của con người" Có thể hiểu quyển con người la những phẩm giá, năng lực, nhu câu và lợi ich hợp pháp của con người đã được luật pháp quốc tế vả pháp luật quốc gia công nhận, thể chế hoá vào trong những quy định cụ thé va bảo dim việc thực hiện. Bên cạnh đó, nêu nhìn nhận quyển con người ở góc đô các quyền tư nhiền.
(natural rights) thì quyển con người 1a toàn bộ các quyển, tư do va đặc quyền. ‘nied Natins, UNHCHE (2006), Pequot ached questions on a Juma rights ~ based approach velopment cooperanon, New Yofk mã Geneva, 1 được công nhân dành cho con người do tính chất nhân ban của nó, sinh ra từ bên chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hảnhỄ, Nha nước chỉ tuyên bố nhân quyền để thừa nhân, chứ không sing tao ra nó. Bay được coi 1a những quyên bẩm sinh, vốn có của con người ma néu không được hướng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người. Đó là những quyển ‘mi chúng ta có đơn giản vì chúng ta tén tại với từ cách la con người mả không can được cấp bởi bất kỳ nha nước nào, không phân biệt quốc tịch, giới tinh, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, mau da, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc bat ky địa vi nào khác.
6 Việt Nam, chưa có một văn ban pháp lý nao quy định về quyền con người như một định nghĩa mả nội ham của khái niệm quyển con người được thể hiện trong quy định pháp luật cu thé là khoản 1 Điều 14 Hiển pháp nước. Công hoa 24 hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiển pháp) năm 2013: *Ở nước Công. hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyển con người, quyển công dan về chính trị, din sự, kinh tế, văn hóa, xã hôi được công nhân, tôn trọng, bảo vệ, ‘bao đảm theo Hiển pháp và pháp luật”. Tại buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Bang ủy Toa án nhân dân tôi cao ngày 26/02/2014 khí nói về những điểm mới về quyển con người, quyền công dan được quy định trong Hiển pháp năm 2013, PGS, TS.
Trần Văn Độ - Chánh án Tòa an Quân. sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao khái quát rằng quyển. con người là quyển của cá nhân ma khi sinh ra vốn di la đã có, còn quyển công dan là quyển được quy định cu thé trong Hiển pháp va pháp luật của nhà nước nó gắn liên với quốc tịch của mỗi công dân. Day la cách khái quát dé hiểu vả cơ ban nhất về quyển con người.
No phù hợp với học thuyết về “quyền tu nhiên” cho rằng quyền con người là những gi bẩm sinh, vốn có ma mọi cá nhân sinh ra déu được hưởng chỉ đơn giãn bởi họ la thanh viên cla gia ` Bường Đụ học Luật Bà Một Q01), Gio mink Lute dn php Met Nơi, Bo. Trphúp, Bà NG, 2022, 18, inh nhên loại. Két hợp hai góc độ tiếp cân về quyển con người cả về mặt tư nhiên và pháp lý thì quyển con người có thể được định nghĩa một cách khái quát lả những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vẫn có và khách quan của con người được ghi nhận va bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tết. Co thể nói đây lả định nghĩa day đủ nhất về quyền con người.
Đặc diém quyên con người. Quyển con người mang bản chất là những quyền tư nhiê , vốn có nên quyển con người là giá trị chung, phổ biển đổi với mọi xã hội, quốc gia, dân. tộc và đóng vai trò lã chuẩn mực quốc tế. Bén cạnh đó, quyển con người cũng mang tính đặc thù, khác nhau ở mỗi quốc gia, dân tộc, công đồng do nó côn.
mang bản chất 24 hội. Lúc này quyển con người được quy định va thừa nhận ở những mức độ khác nhau dé phủ hợp hơn với đặc thủ vẻ lịch sử, thể chế chính trị, đặc trưng văn hod, truyén thống dân tộc và gin với điểu kiện, sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội tai mỗi quốc gia. Bởi con người không, sống trong hư vô mà sông trong một sã hội cụ thể, có mỗi liên hệ gắn bỏ với toàn cầu ma không có sư phân biết nao. Đó là những quyên thiên bẩm, vốn có của con người và được thừa nhận cho tắt c& mọi người trên trái dat, thể hiện khát vong chung của loải người, không phân biết chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dia vi sã hồi, giới tính.
“Bảo dam tắt cả các quyển con người đành cho tất cả mọi người” lả khẩu hiệu của Hội nghị thé giới Vienna vẻ. quyển con người năm 1993°, “oa Hat Đo bóc Quắc ga Hi Xội, Trng tôm nin cin Quyén cơn nghi ~ Quy cng din 2012), Bialp vf aptnconngun Neb, Đúc thắcga NGL 31 ‘thaed Nae (993), Vanes Decbotton thể Progamar ớ Aton, the Wert Csfeence on Ha ages Yanna 10 Ý tưởng về quyên phổ biển được bat nguồn từ nha triết học chính trị John Locke (1632 — 1704). Ong dé xuất rằng con người được sinh ra với cái ‘ma ông goi là “phiên đá trồng" hoặc “tabula rasa’ *” (theo ngôn ngữ La — tinh). Va vi lẽ đó, con người nên được ban tăng hang loạt quyển bat khả xêm phạm từ khi mới sinh ra.
Đối với John Locke, những quyển cốt lối nay là quyển sống, quyền tự do va tai sin’, Va rất nhiêu tư duy của John Locke đã hình thánh đã được phan anh trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyển (UDHR) năm. Ví du: Điền 2 nêu rõ rằng việc tiếp cân các quyển nay và việc cấp các quyển đó chỉ bởi vì chúng ta là con người va không thé dua trên vị trí hoặc. quốc tịch, chũng tộc hoặc giới tính, dân tộc hay ngôn ngữ, tôn giáo va Điều 3 UDHR năm 1948 tiép tục khẳng định ring mọi người đều có quyển sống, quyển tự do và quyền an toản thân thể Thứ hat, tính đặc thù (characteristic rights): Tuy nhiên, cach giải thích theo chủ nghia tương đổi về quyển con người tin rằng niém tin, giá trị và do. đó quyền là sản phẩm của văn hóa, nên thay đổi tùy theo từng nên văn hóa va từng nơi.
Học giã nhân quyển Jack Donnelly tin rằng nhân quyển là thứ ma ông gọi là “tương đổi phổ quát” (relatively universal). Tất cả mọi người sinh ra déu tự do và bình đẳng vé phẩm cách va quyền lợiŸ. đẳng về quyên con người là sự bình đẳng trong tư cách chủ thể, nhưng mức. đô hưởng thụ quyền khác nhau lại tuy thuộc vào các tiêu chí khác nhau vẻ kinh tế va sã hội cũng như dén sự vả chính trị ở mỗi quốc gia hoặc khả năng thể chat hoặc tinh thân, tải năng va đặc điểm phản ứng của chủ thể hưởng thụ.
quyển Vi dụ: Điểu 19 UDHR năm 1948 trao cho mọi người quyển tự do ngôn luận. Nhưng ở những nơi khác nhau trên thé giới sẽ đưa ra những giới hạn khác nhau vẻ giới han của quyên tư do ngôn luân. Các ngôn từ kích động “Một uy ca nhà ng ngưện học Km Locke (1632 — 1709,song cẩn Ti hận vệ ar bất ca cơn ngời (1589), lạ han ve ương đồng ban đâu ca tim cơn nghời với hy gậy ng hong tr, int ch yt" Cake she ihe pape oid ofa darts). ‘maps Pato ster eden fodke police ray cấp tần cwsingay 3072022 “Ryênhgền quốc tỉ niên quyện vi 1049, Buu 1 i thù dich sé được định nghĩa khác nhau dựa trên bối cảnh va văn hỏa, các giá trí tôn giáo khác nhau.
Đó là ý tưởng về “tinh phổ quát tương đổi” hay còn. được gọi là tính đặc thủ, Cùng quan điểm nay, co thé lập luận rằng chúng ta thực sư cần phãi coi nhân quyền như một văn hóa ở ngay trong và của chính nó, để học héi những, gi mang lại lợi ich tốt nhất cho con người trên toàn thé giới”. Điều nay là do. các nên văn hóa không đồng nhất va von di rat dé uốn nắn, nên các khái niệm.
về quyển con người khác nhau ở các nên văn hoá khác nhau cũng phải được hình thành. Quyển con người phải có khả năng tiếp thu sự khác biệt vé văn hóa Thứ ba, tinh không thể chuyển nhượng (inalienable rights): Các quyển con người được quan niệm là các quyển tự nhiên, thiêng liếng va bất khả xâm. pham như quyền sống, quyển tw do và mưu câu hạnh phúc. Các quyền nay gin liên với cá nhân mỗi một con người va không thể chuyển nhượng, ban chế hay bị tước bỏ bởi bat kỉ chủ thé nào khác.
Tuy nhiên ở một số trường. ‘hop đặc biệt chủ thé thu hưởng có thé bị tước đi quyền tự do hoặc quyển sống, Thức tính không thể phân chia (indivisible rights). Các quyển con người gin kết chặt chế với nhau, tương hỗ lẫn nhau, việc tách biết, tước bỏ ‘hay hạn chế bắt kì quyền nao đều tác động tiêu cực đền giá trị nhân phẩm va sự phát triểi của con người. Theo nguyên tắc nay, tắt cả các quyển con người đều có mới liên hệ với nhau va quan trọng như nhau đổi với sự phát triển day đủ cia nhân cách con người và đổi với hạnh phúc của một người.
Do đó, không thé có việc thực hiện chân chính va hiệu quả các quyền dân sự vả chính trị nêu không được tôn trọng các quyển kinh tế, xã hội va văn hóa.