Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài Các vấn đề lý luận về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài và pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài là những vấn đề được quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. * Về khái niệm, đặc điểm nhà đầu tư nước ngoài Tại Việt Nam, lý luận về nhà đầu tư nước ngoài cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Các khái niệm “nhà đầu tư”, “nhà đầu tư chuyên nghiệp” theo Luật Chứng khoán 20191; khái niệm “cổ đông”, trong đó có “cổ đông phổ thông”, “cổ đông ưu đãi”; “cổ đông sáng lập” theo Luật Doanh nghiệp năm 2005; khái niệm “nhà đầu tư chiến lược” đã được giải thích trong bài viết của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2010) [29], “Khái niệm nhà đầu tư theo quy định của pháp Luật Chứng khoán và pháp luật doanh nghiệp Việt Nam” tại Tạp chí Luật học số 9/2010.
Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài cũng được giải thích trong bài viết “Thực trạng pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Doãn Thị Nhung - Nguyễn Thị Lan Anh, Tạp chí Luật học, số 10/2012. Các tác giả đã phân tích và cho rằng do khái niệm nhà đầu tư nước ngoài không được giải thích đồng bộ ở văn bản dưới luật nên cần có sự giải thích thống nhất về khái niệm này để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật và quản lý nhà nước. Tác giả đã dẫn chiếu đến bài viết của tác giả Mai Hữu Đạt, “Một số bất cập của pháp luật về đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam và phương hướng hoàn 1 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 (Quốc hội ngày 26/11/2019) (“Luật Chứng khoán 2019”) 8 thiện” trong Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 3/2010, tr. 32 với kiến nghị về định nghĩa khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài trước khi đầu tư vào Việt Nam cũng như các chi nhánh, văn phòng đại diện (không có tư cách pháp nhân) của họ”.
Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” cũng được giới thiệu trong cuốn sách Pháp luật về đầu tư nước ngoài, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong thời kỳ đổi mới của tác giả Tiến sĩ Trần Anh Tuấn và Tiến sĩ Trịnh Hải Yến xuất bản năm 2020 [56] ; Hoặc cuốn cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của tác giả PGS. Đặng Hùng Võ xuất bản năm 2017 [57] cũng nêu về khái niệm và đặc điểm của nhà đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở phân tích khái niệm nhà đầu tư theo Luật Đầu tư 2014, một số đặc điểm của nhà đầu tư nước ngoài đã được khái quát trong một số công trình nghiên cứu như: (i) Nhà đầu tư nước ngoài có quốc tịch nước ngoài; (ii) Nhà đầu tư nước ngoài có trụ sở chính tại nước ngoài; (iii) Nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Như vậy, có thể thấy ở nước ta đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài”.
* Về lý luận về khái niệm góp vốn Phương diện pháp lý của khái niệm góp vốn đã được phân tích trong nghiên cứu của các tác giả Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tấn trong cuốn “Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải”, Quyền II, Kim Lai ấn quán, Sài Gòn (1972). Theo đó, góp vốn được hiểu là nghĩa vụ pháp lý quan trọng nhất của các thành viên, khi các thành viên cam kết góp vốn là họ đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của công ty do chính họ tạo lập nên, và công ty là pháp nhân đã trở thành chủ nợ của chính người chủ của mình. Nếu một thành viên đã đăng ký góp vốn mà không góp hoặc góp không đủ, không đúng hạn thì công ty sẽ đòi. Việc góp chậm, 9 thành viên phải trả lãi mà không cần phải có điều kiện là đã bị thúc nợ, và có thể phải bồi thường thiệt hại mà không cần phải chứng minh sự gian tình.
Bản chất của góp vốn được giải thích trong Giáo trình “Luật Thương mại - Tập 1” của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018). Ở đó, giáo trình xác định: “Bản chất của góp vốn xét dưới góc độ kinh tế là góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, phần vốn góp của các cổ đông trở thành tài sản của công ty. Nhờ đó mà công ty mới tiến hành được các hoạt động kinh doanh cũng như bảo đảm quyền lợi cho các đối tác của công ty. Từ phương diện pháp lý, hành vi góp vốn là hành vi chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty để đổi lấy quyền lợi công ty.
Về phương diện lý luận sở hữu, thì công ty là chủ sở hữu tài sản, còn các cổ đông là chủ sở hữu công ty. Các cổ đông cùng nhau khai thác công ty (đưa công ty vào hoạt động) để kiếm lời chia nhau. Hành vi góp vốn để đổi lấy quyền lợi từ công ty, khác với các hành vi mua bán tài sản, cho thuê tài sản. Nếu như hành vi bán tài sản, hay cho thuê tài sản thì người bán hay người cho thuê tài sản sẽ nhận được ngay số tiền bán hoặc tiền cho thuê tài sản khi chuyển giao tài sản đó.
Còn hành vi góp vốn khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho công ty, thì người góp vốn sẽ nhận được “quyền lợi” từ công ty. Quyền lợi đó vừa có tính hữu hình vừa có tính vô hình và có chuyển đổi thành tiền, thông qua hoạt động của công ty bằng hình thức trả cổ tức, cùng với các quyền lợi khác như, quyền được tham gia quản lý công ty, quyền được biết thông tin về hoạt động của công ty…”. Như vậy, có thể nhận thấy giáo trình đã đưa ra khái niệm liên quan đến góp vốn ở nhiều khía cạnh khác nhau từ khía cạnh kinh tế đến khía cạnh pháp lý. Gần đây nhất, chủ đề góp vốn thành lập công ty cổ phần được tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh (2020) bàn luận trong bài viết “Pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập công ty cổ phần và thực tiễn thực hiện”.
Theo đó, góp vốn thành lập công ty cổ phần được giải thích là việc các nhà đầu tư góp tài sản thuộc sở hữu của mình để tạo thành tài sản chung ban đầu cho hoạt động của công ty cổ phần, được gọi là vốn điều lệ. Đây là những tài sản đầu tiên của công ty cổ phần, được 10 hình thành bởi sự đóng góp của các cổ đông sáng lập và được ghi công nhận thành vốn điều lệ của công ty. Việc góp vốn thành lập công ty được thực hiện bằng việc đăng ký mua cổ phần của công ty và được ghi nhận tại Điều lệ công ty trước khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà đầu tư phải chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty trong thời hạn được phép theo quy định của pháp luật sau khi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Hết thời hạn này, bất kỳ hành vi góp vốn nào cũng không được gọi là góp vốn thành lập công ty cổ phần. Ngoài ra, cũng có nhiều công trình khác có đi vào nghiên cứu, phân tích lý luận về góp vốn như cuốn sách: Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam [58] năm 2019 của tác giả Phạm Tuấn Anh có nêu rõ khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập công ty; Nguyễn Thị Dung (2010), Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách thành viên công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Tạp chí Luật học, số 9/2010, tr.28-37; Doãn Hồng Nhung - Nguyễn Thị Lan Anh (2012), Pháp luật về góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, NXB.Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Tú (2017), Hoàn thiện pháp luật về góp vốn mua cổ phần của ngân hàng thương mại, Tạp chí Luật học số 10/2017, tr.58-69; Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Góp vốn dưới góc độ quyền tự do kinh doanh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16/2018, tr. Trong các bài viết đó cho thấy nhận thức về về góp vốn như sau: Góp vốn thành lập doanh nghiệp là việc nhà đầu tư chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho doanh nghiệp, trong một số trường hợp việc chuyển quyền phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau đó nhà đầu tư sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Một số tác giả khác như tác giả Lê Ngọc Thắng, Đỗ Thị Thìn, Vũ Thị Loan, Tường Thanh Thảo phân tích rằng hành vi góp vốn vào công ty là việc một cá nhân hay tố chức chuyển dịch tài sản của mình (tiền, tài sản và quyền tài sản) theo một trình tự, thủ tục nhất định vào công ty và theo đó được hưởng các quyền và 11 nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Hơn thế nữa, các tác giả cũng đưa ra những phân tích về bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của hành vi góp vốn. Phân tích Luật Doanh nghiệp năm 2005, có tác giả Vũ Thị Loan đã đưa ra nhận định, đánh giá, phân tích về khái niệm góp vốn. Theo họ, góp vốn luôn gắn liền với tài sản; góp vốn sẽ đưa tài sản của người góp vốn thành tài sản của công ty và thông qua góp vốn, người góp vốn sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu chung của công ty.
Có tác giả Dương Thị Thu phân tích khái niệm của góp vốn thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phân biệt góp vốn thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các hình thức đầu tư góp vốn khác. Theo đó, góp vốn thành lập có vốn đầu tư nước ngoài là một hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thông qua một hành vi pháp lý tự nguyện chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của ít nhất một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào một hoạt động sản xuất kinh doanh để thành lập một doanh nghiệp mới tại Việt Nam nhằm đảm bảo cho những chi phí đối với những hoạt động của công ty để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra của các nhà đầu tư.