Chương 1: Giới thiệu 20 bài thơ vịnh cảnh kinh đô trong “Danh: biên tập lực”: khái quát những thông tin cần nắm về ác phẩm lớn “Danh n tập lục” như về 20 bai the trong phan vinh cảnh kinh đô để có thể tiếp cận sâu thêm. Chương 2: Phiên âm, chú giải 20 bài thơ vịnh cảnh kinh đô trong “Dani: biên tập lục nhiệm vụ chính của đề tà; phiên âm, dịch nghĩa và chú giải cụ thể về 20 bài thơ, Chương 3: Đồng góp của 20 bài thơ vịnh cảnh kinh đô trong “Danh biên đập lục”: phần mở rộng của đỀ tài với mục đích làm tổ thêm về giá trị của 20 bãi thơ cqua vài điểm tiêu biểu trong nội dung và nghệ thuật. “Chương l: GIỚI THIỆU 20 BÀI THƠ VỊNH CẢNH KINH ĐÔ TRONG “DANH BIEN TAP LUC” 1,1. Hoàn cảnh lịch sử- xã hội và tình hình văn học thế kỷ XIX 1.
Hoàn cảnh lịch sử xã hội Sau khi đánh bại quân ray Sơn, vào ngày 1 tháng 6 năm Ni ìm Tuất (tức năm. 1802), Nguyễn Ánh lên ngồi hoàng để, tự lấy niên hiệu Gia Long, lập mà nhà Nguyễn triều đại phong kiến cuỗi cùng của Việt Nam và dời Kinh đỏ về Phú Xuân đế Đắt nước lúc này đã được thống nhất cả Đăng Trong và Đảng Ngoài cũ và đây cũng là lần đầu tiên tong lịch sử có một tiểu đại trị vì lãnh thổ đắt nước kéo đi từ Ai Nam Quan cho ti Mai Cả Mau. Năm 1803, Gia Long đã cử sứ bộ sang nhà Thanh. xin quốc hiệu, đến đầu năm 1804 thì được nhà Thanh cho quốc hiệu và đổi là Việt Nam; thể nhưng trước sự phân đối của nhân dân, ít lâu sau Gia Long đã ly lạ quốc hiệu là Đại Việt.
Tuy nhiên đến năm Mậu Tuất 1538, vua Minh Mệnh đỗi tên quốc hiệu là Đại Nam, và cắm nhân dân nhắc đến hai chữ Đại Việt. Là triễu đại phong kiển cuỗi cùng của Việt Nam, nhà Nguyễn ra đồi khi nền phong kiễn nước nhà đã mục miỗng và bước vào tình trạng suy vong. Chính vì lẽ ấy mà đù rằng đã thừa hưởng tắt cả những thành quả từ triều định Tây Sơn thể nhưng đất nước dướisự tr vì của triều đình nhà Nguyễnthì lại chẳng phát triển, ngược lại còn ngày cảng đi xuống. Thể nhưng không phải nhà Nguyễn không đem lại đồng góp gì, nhìn về lịch sử để suy xét công bằng th thấy rằng nhà Nguyễn đã cổ công lớn trong vi khai phá lãnh thổ (mở rộng phía Nam tới tận Đồng bằng sông Cứu Long); nhận thành công từ tiểu Tây Sơn trong công cuộc thông nhất Đăng Trong và Đăng Ngoài, thống nhất dắt nước.
Ngoài ra thì Nhà Nguyễn cũng vô củng ch trọng tới việc mở khoa thí cử để tuyển chọn nhân tài, tuy rằng quy định khoa cử có nhiều. bắt cập thể nhưng nhân tài dưới tiểu Nguyễn bước r từ các khoa thì không hÈ như 8 i tiên của tiểu Nguyễn (Nguyễn Ý, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà “Tôn Quyền, Binh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt vì Lê Hiệu. Bên cạnh đồ có một điều cằn phải công nhận rà di sin dưới thời nhà Nguyễn có giá tị ắt lớn, nhất là di sản về kiến trúc có thể kể đến là cổ đồ Huế. Phong cảnh nên thơ hữu.
nh của vùng đất cổ đô cùng với việc ra sức xây dựng những công tình kiến trú của vua Nguyễn đã góp phần tạo nên những di sản văn hóa cũng như kiến trúc để lại cho đời sau. Nói về vẽ đẹp tử thiên nhiên chođến vẽ đẹp kiến trúc xây dựng thì cần điểm đến tie phim New l hội shi tập của vua Thiệu Trị. Trong tác phẩm vua đã viết thơ và vẽ tranh để vịnh hai mươi cảnh đẹp nhất trong kinh thành (Thần kinh nhị thập. cảnh ~ 20 cảnh đẹp chốn Thần kinh).
Mặc dù theo thời gian cũng như n chuyển của lịch sử đã làm mai một, phá hủy đi phần nào những cảnh đẹp lúc bấy giờ hay thậm ch là ầm tiệttiêu đi những thắng cảnh ấy: thể nhưng vẫn không thể ph nhận .được công sức đồng góp di sân của tiểu đình nhà Nguyễn đổi với văn hóa nước nhà. ft nước dưới thời nhà Nguyễn không hé phát triển ngược lại còn tệ hơn so với những triều đại trước. Các vua triều Nguyễn thì chỉ có chú tâm vun vén cho dòng tộc, chuyên quyền mà chẳng thể làm gì cho dân khiển cho dân chúng rơi vào thảm trạng đối nghèo, khổ sở và những chính sách hà khắc; các vua ạỉ ra sức tuyỄn bí và để cao “Tổng Nho, như Tự Đức đã đem “0 điẫu huấn dụ” của vua Minh Mệnh để soạn thành “Thập điều đin cu". Chưa kể, khi lên ngồi, Gia Long đã trả thù nhà Tây Sơn manrg (ới Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, đấ Nguyễn Quang Toản; mặc dã Giá Long ly e6 ring “te thủ chín đời” nhưng lòng dân vẫn không phục.
Chính vì những lề ấy đã tạo nên mâu thuẫn giữa người cằm quyền và người bị: và như một lẽ tắt yễu của xã hội, khi mâu thuẫn đạt đến đỉnh điể: thì đầu tranh sẽ bùng nỗ. Đắt nước trước đó đã tri qua nỗi dau chia cét Đăng Trong ~ Đăng Ngoài tĩ chỉ qua một thời gian yên bình ngắn ngồi dưới triều đại Tây Sơn, đắt nước lạ tiếp tụ lâm vào tình trạng nội chiến đã xây raliên miễn với những cuộc đấu tranh của nhân dân. Chỉ trải qua bốn triu vua (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức), ắt nước đã có hơn 300 cuộc khởi nghĩa nhân dân, ni là dưới thời vua Minh Mệnh đã có tầm 200 cuộc khởi nghĩa. Những cuộc khởi nghĩa diễn ra lúc đầu thì vừa và nhỏ nhưng dẫn phát triển lên to lớn như của Lê Duy Khôi ở Gia Định (1333-1535), Lê Duy Lương ở Thanh Hóa (1331- 1833), Ning Van Văn ở Cao Bằng ~ Lạng Sơn (1833-1535) hay cuộc khỏi nghĩa gây nguy hiểm đến triều đình của n Bá Vành ở Sơn Nam (1821-1827).
Các cuộc khởi nghi liên tục diễn ra, lớn có nhỏ có chứng tỏ rằng thời kì xã hội khi ấy vô cùng tồi ren, vua quan Không th lấy được lòng dân và càng chẳng thể chăm lo cho dân chúng đăng mực. Chưa đừng lại mâu thuẫn trong nước với nhân dân, vua triều Nguyễn lại tiếp tục đưa ra những chính sách ngoại giao độc đoán “bé quan tỏa cảng”, cắm người phương Tây vào truyền đạo; chính vì như vậy mà nhà Nguyễn đã góp phin không hÈ nhỏ đến việc đánh mắt đắt nước vào tay DE quốc Pháp 1. Tình hình văn học Không giống với tình hình xã hội, văn học dưới thời nhà Nguyễn lại phát triển se thịnh vối nhiễu thành tu vô cũng to lớn ở nhiễu mảng từ thơ tối văn phú, Với mục đích “chin hung văn trị”, thời kỳ này đã được đánh giá là thời kỳ văn học thịnh vượng nhất cả a ‘hit Nm I chữ Hán khi mà không chỉ xuất =n nhiéu nha tho, nhà văn mà các tác phẩm để lại đến đời sau vô cùng đồ sộ và phong phú. Van hoe gin liỄn với thời đại, dùng văn học để thể hiện thời đại vậy nên khi đứng trước sự biển thiên của lịch sử, tước những thay đồi của thời đại đã tạo ra ắt nhiều trào phái, luỗng văn học mới.
Văn học mang chủ nghĩa nhân đạo được phát triển thịnh hành nhất, bởi lẽ chính sự trong nước rồi ren, phiễn hà là cho lòng dânt coán hận; đứng trước thời thể chuyển vằn liên tục, từ cuộc chỉ Đảng Trong - Dang Ngoài của chúa Trịnh — chúa Nguyễn, lại chịu sự áp bức của triều đình hậu Lê thối nit; chỉ mới trải qua mắy chục năm yên bình dưới triều Tây Sơn thì nhân dân lại tiếp tục phải dưới ách thống trị cố hủ của triểu định nhà Nguyễn đã khiến cho lòng dân ‘on hận vì sưu cao thuế nặng, vì chính sách cai trị không hợp lòng dân; vì tam cương ngũ thường bi dap 46, con người bị chà đạp không thương tiếc; vì cái xã hội rối ren như thể, nhà thơ nhà văn đã hướng ngời bat v8 thực Ế, viết nên những câu văn câu thơ đánh vào xã hội. Tiêu biễu có th kể đến là tác phẩm Phản thúc ước của Nguyễn Hàm Ninh, Đặc dạ của Cao Ba Quat, Dg Vi cảm tác của Phạm Nguyễn Du,. chỉ ở thơ ở phú và ngay cả truyện thơ Nôm cũng không nằm ngoài đồng chảy của vấn học với sự góp mặt của nhi tác phẩm tiêu biểu như Nhự độ mai diễn ca, Phạm. Trân Cúc Hoa, Không chỉ phê phán hay chê trách xã hội phong kiến lúc bấy giờ, văn học vẫn tiếp nhận luỗng tư trởng ca ngợi gidi cắp thống trị - tiểu đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ với nhiều ác phẩm khác nhau: Ngự chế tấu bình tặc khẩu thỉ tập của vừa Minh Minh, Đại Nom quốc sử diễn ca.
Dưới thồi nhà Nguyễn, cảm húng thí ca lan truyền đi khắp nơi, nhiều danh xưng cũng được xuất hiện cho cả vương hẳn, công chúa chứ không riêng gì cdc thi si; ví dư “Tam Khanh nhà Nguyễn” bao gồm ba công chúa nhà Nguyễn có tl “Khanh”: Nguyệt Đình (ự Trọng Khanh), Mai Âm (tr Thúc Khanh). Tĩnh Hòa (tự Quý Khanh); các vị vua nhà Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị cũng làm rất nhiễu bài thơ, đều để lại bài ngụ chế hay vua Tự Đức nỗi tiếng trên diễn đòn văn học, “Thể nhưng, xét trong tình hình thực tế úc bấy giờ, việc có nhiễu nhà thơ, nhà văn chỉ chú trọng đến mảng văn chương như vậy cũng không thực sự là hạy đối với vận mệnh nước nhà. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra liên miên, nhân dân đói khỏ lắm than mà ại chủ tâm quá nhiều vào thơ văn từ vua chúa đến quan li, mà phần nhiều lại là thơ ngự chế ca ngợi công đức thiên triểu; há chẳng phải chuyện cười hay sao? "Những nêu xétrên phương diện khoa cũ, học thuật thì cũng cỏ những thành tru đáng ghỉ nhận. Gần như chưa có triều đại nào tổ chức khoa thỉ đều đặn như nhà Nguyễn.
Đặc biệt, thời Tự Đức còn mở thêm cả "Ân khoa” để tuyển chọn nhân tài. Trên thì cđân lúc bấy giờ cũng không ít người đã khẳng định được vị trí của mình trong đồng chảy văn học dân tộc. Do vậy, đến vua Tự Đức cũng phải thốt lên: "Văn như Siêu, CQuất vô tiền Hán Thỉ đáo Tùng, Tuy thấtthịnh Đường" (Đỗ Bằng Đoàn & Đồ Trọng HỆ, 1962) 1,2.& Cuộc đời Nguyễn Hàm Ninh BX (1808 — 1867) tự là Thuận Chi MLZ. hiệu Tĩnh Trai ##ïý và Nhâm Sơn ali, ngudi ở làng Phù Ninh.
Sau nay ông dời đến làng Trung Ái, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là làng Trung Thuần, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình).