Giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu toàn diện về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan. Phân tích sâu sắc các vấn đề lý luận, thực tiễn và quy định pháp luật liên quan.

Chuyên ngành

Luật dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ Luật học

2024

238
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu và tổng quan về Giới hạn quyền tác giả quyền liên quan Lý luận Thực tiễn

Chủ đề 'Giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan' phản ánh việc điều chỉnh các trường hợp pháp luật quy định để hạn chế quyền của chủ sở hữu nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và cân bằng các lợi ích xã hội. Những khái niệm này giúp xác định phạm vi quyền của chủ sở hữu trong từng lĩnh vực, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận tác phẩm cho công chúng. Trong lý luận, giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan được xây dựng dựa trên nguyên tắc nguyên tắc cân bằng lợi ích, các tiêu chí về sử dụng hợp lý và ngoại lệ. Thực tiễn cho thấy, các quy định về giới hạn này ngày càng phù hợp với xu hướng toàn cầu, đặc biệt trong môi trường số hóa, góp phần thúc đẩy sáng tạo, phổ biến tri thức và bảo vệ quyền lợi của nhà sáng tạo. Hiểu rõ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn sẽ giúp các cơ quan, nhà sáng tạo và người dùng áp dụng đúng đắn các quy định về giới hạn quyền pháp lý này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của Giới hạn quyền tác giả quyền liên quan

Giới hạn quyền tác giả và quyền liên quan là các quy định pháp luật giúp hạn chế quyền độc quyền của chủ sở hữu để phục vụ lợi ích cộng đồng, như luật cho phép trích dẫn, sao chép không thương mại hoặc đối tượng đặc thù như thư viện, người khuyết tật. Đây phản ánh nguyên tắc cân bằng giữa quyền của nhà sáng tạo và lợi ích người dùng, giúp thúc đẩy hoạt động sáng tạo, phổ biến kiến thức và bảo vệ các quyền nhân thân trong các tình huống cụ thể.

1.2. Vấn đề lý luận trong xây dựng giới hạn quyền Các nguyên tắc và quy chuẩn quốc tế

Các nguyên tắc nền tảng như nguyên tắc cân bằng lợi ích, học thuyết hết quyền, fair use, fair dealing đóng vai trò làm nền tảng lý luận cho các quy định. Những quy chuẩn quốc tế như Công ước Berne, TRIPS đã quy định rõ về giới hạn quyền trong môi trường số, kiểm chứng sự phù hợp giữa luật quốc gia và luật quốc tế nhằm bảo vệ quyền lợi các bên, kể cả trong thời đại công nghệ số.

II. Thực trạng pháp luật và thách thức trong quy định giới hạn quyền tác giả liên quan tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước tiến trong quy định về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan, nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập như quy định chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ và khó áp dụng thực tiễn. Trong đó, các vấn đề về ngoại lệ như sao chép phù hợp, trích dẫn hợp lý, sử dụng trong thư viện, và quyền của người khuyết tật còn gặp nhiều tranh cãi và hạn chế thực hiện. Đặc biệt, trong môi trường số, các quy định chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ, gây khó khăn cho công tác quản lý và thi hành luật. Nhiều vụ xung đột về quyền và các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan ngày càng tăng, đòi hỏi cập nhật và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp hơn với thực tiễn và hội nhập quốc tế.

2.1. Các quy định pháp luật về giới hạn quyền tác giả tại Việt Nam Hiện trạng và tồn tại

Hiện nay, các quy định về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan trong các luật, nghị định của Việt Nam đề cập đến ngoại lệ, sử dụng hợp lý, và các trường hợp đặc thù như thư viện, người khuyết tật, nhưng còn thiếu các quy định rõ ràng, thống nhất, phù hợp với thực tế công nghệ số, dẫn đến khó khăn trong áp dụng, thực thi và tranh chấp phát sinh nhiều hơn.

2.2. Các bất cập và thách thức trong thực thi pháp luật về giới hạn quyền ở Việt Nam

Khó khăn trong xác định rõ ràng các giới hạn, thiếu quy định cụ thể về vấn đề sao chép, trích dẫn, trả phí, quyền của thư viện và nội dung nội khối pháp luật chưa phù hợp, gây khó khăn cho các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu, giảng dạy, ảnh hưởng đến mục tiêu thúc đẩy công bằng và hiệu quả phát triển sáng tạo.

III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về giới hạn quyền tác giả liên quan

Xu hướng sửa đổi pháp luật tập trung vào hoàn thiện các quy định về ngoại lệ, rõ ràng, minh bạch hơn, phù hợp với công nghệ mới như kỹ thuật số, môi trường trực tuyến. Đề xuất xây dựng các quy định về quyền sử dụng tự do, trích dẫn hợp lý rõ ràng, cân nhắc đến quyền tự do ngôn luận, khả năng khai thác, phân phối tác phẩm trong môi trường số. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cộng đồng, đào tạo cán bộ, tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm. Các hướng pháp lý nên dựa trên nguyên tắc quốc tế, phù hợp đặc điểm văn hóa, xã hội của Việt Nam nhằm đảm bảo hiệu quả và công bằng.

3.1. Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật phù hợp với xu hướng số hóa hội nhập

Cần cập nhật các quy định rõ ràng, cụ thể hơn về ngoại lệ cho thư viện, người khuyết tật, sử dụng hợp lý, quyền của tác giả và chủ sở hữu. Đồng thời, xây dựng cơ chế thực thi chặt chẽ, minh bạch, hợp lý, dựa trên nguyên tắc quốc tế để kiểm soát các hành vi xâm phạm quyền một cách hiệu quả.

3.2. Kiến nghị xây dựng chính sách nâng cao nhận thức và công tác thi hành pháp luật

Nâng cao ý thức của cộng đồng về quyền tác giả, trách nhiệm trong sử dụng tác phẩm hợp pháp. Tăng cường đào tạo, phổ cập kiến thức pháp luật, khuyến khích các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SHTT, phát huy hiệu quả của cơ chế xử lý vi phạm, tạo môi trường sáng tạo lành mạnh trong xã hội.

IV. Tương lai và cơ hội phát triển hệ thống quản lý quyền trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và số hóa, hệ thống pháp luật Việt Nam cần ngày càng phù hợp hơn để thúc đẩy sáng tạo, phát triển ngành công nghiệp nội dung, đồng thời bảo vệ quyền cá nhân phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Việc xây dựng các chính sách rõ ràng về quyền sử dụng trong môi trường số, các phương thức chuyển giao, các ngoại lệ hợp lý phù hợp hơn với thực tiễn sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư, hợp tác, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ toàn cầu. Dự báo, xu hướng sẽ tập trung vào phát triển hệ thống quản lý điện tử, thúc đẩy doanh nghiệp và nhà sáng tạo khai thác tối đa các giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại kỹ thuật số.

4.1. Phát triển hệ thống pháp luật thích ứng với công nghệ số thúc đẩy sáng tạo

Xây dựng khung pháp lý rõ ràng, linh hoạt phù hợp thế giới số, khuyến khích liên kết hợp tác quốc tế để thúc đẩy sáng tạo, chia sẻ quyền lợi hợp tác toàn cầu.

4.2. Cơ hội nâng tầm vị thế Việt Nam trong hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ

Tận dụng các hiệp định FTA để nâng cao tiêu chuẩn, kỹ năng quản lý, thi hành pháp luật, thu hút đầu tư trong lĩnh vực sáng tạo nội dung và chuyển giao công nghệ, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế dựa trên quyền sở hữu trí tuệ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan và pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam. 7 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan và pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan * Về quan niệm, đặc trưng của QTG, QLQ: - Quan niệm QTG, QLQ được nghiên cứu và xây dựng khá cụ thể trong các giáo trình, sách chuyên khảo, về cơ bản nhìn nhận dưới ba góc độ là chủ quan, khách quan và là một quan hệ pháp luật dân sự. Bên cạnh đó, một số tài liệu1 cũng phân tích những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm QTG của hệ thống châu Âu lục địa và hệ thống Anh – Mỹ. Đối với QLQ, “Giáo trình Luật SHTT” do TS.

Lê Đình Nghị và TS. Vũ Thị Hải Yến đồng chủ biên đã chỉ ra sự khác biệt trong xác định đối tượng bảo hộ của QLQ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT cũng như một số quốc gia trên thế giới về bản ghi hình và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Khái niệm QLQ cũng được giải thích khá cụ thể trong Bảng chú giải thuật ngữ của WIPO về các điều khoản của Luật QTG và QLQ năm 1980. - Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến một số đặc trưng cơ bản của QTG là được bảo hộ tự động; chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, không bảo hộ ý tưởng; đối tượng của QTG là các sản phẩm của hoạt động sáng tạo, không nhằm mục đích ứng dụng công nghiệp; QTG được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, giá trị nghệ thuật.

Đáng chú ý, Giáo trình Luật SHTT Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017 còn đề cập đến đặc điểm là QTG không được bảo hộ một cách tuyệt đối. Về đặc trưng của QLQ, các công trình đều thống nhất QLQ là một quyền phái sinh từ QTG, có quan hệ mật thiết với QTG; đối tượng của QLQ được bảo hộ khi có tính nguyên gốc; QLQ chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định, kể cả các quyền nhân thân, QLQ được bảo hộ trên cơ sở không gây phương hại đến QTG và QLQ là quyền phái sinh nhưng là một loại quyền SHTT độc lập. * Về khái niệm, đặc điểm của giới hạn QTG, QLQ - Liên quan đến khái niệm giới hạn QTG, QLQ, tồn tại hai quan điểm trong các công trình nghiên cứu trước đây: (i) Quan điểm thứ nhất đồng nhất giới hạn QTG, QLQ với các trường hợp sử dụng mà không phải xin phép, không phải trả tiền và sử 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật SHTT, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.36-37; Kiều Thị Thanh (2002), “Bảo hộ pháp lý QTG”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12, Văn phòng Quốc hội, tr.

8 dụng mà không phải xin phép nhưng phải trả tiền trong pháp luật SHTT2; (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng giới hạn QTG theo nghĩa rộng là toàn bộ những quy định hạn chế QTG trong những trường hợp để bảo vệ lợi ích công cộng, bao gồm cả giới hạn về lãnh thổ, thời hạn bảo hộ, các đối tượng không được bảo hộ, chủ thể được bảo hộ và nội dung bảo hộ. Còn theo nghĩa hẹp, giới hạn QTG chỉ liên quan đến các giới hạn về nội dung QTG, theo đó QTG bị hạn chế trong những trường hợp người khác có thể sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu QTG, thậm chí không phải trả các lợi ích vật chất với những lí do chính đáng, hay với những điều kiện thỏa đáng. Giới hạn QTG dưới góc độ này còn được sử dụng với thuật ngữ là “các ngoại lệ”3. Trong tài liệu nghiên cứu của WIPO: “Exceptions and limits to copyright and neighboring rights”, Geneva, December 1999 có chỉ ra một số thuật ngữ liên quan đến giới hạn và ngoại lệ của QTG, QLQ theo pháp luật một số quốc gia4.

Tuy nhiên, tài liệu này chưa đi sâu nghiên cứu và chỉ ra sự khác nhau trong các thuật ngữ này. - Liên quan đến đặc điểm của giới hạn QTG, QLQ, cho đến nay về cơ bản chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến vấn đề này, chỉ có đặc điểm của giới hạn quyền SHCN đối với sáng chế được đề cập trong Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Giới hạn quyền SHCN đối với sáng chế theo quy định của Hiệp định TRIPs và việc thực thi ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Dương năm 2017. * Về cơ sở lý luận của việc quy định giới hạn QTG, QLQ Cơ sở lý luận của việc quy định giới hạn QTG, QLQ đã được đề cập một cách khái quát trong một số công trình nghiên cứu khoa học đã công bố về QTG, QLQ. Đầu tiên phải kể đến một số quan điểm triết học là cơ sở cho việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và giới hạn quyền nói riêng như triết học về giá trị của lao động (của John Locke), về quyền tự do sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel), về phương tiện (của Jeremy Bentham)5.

Đặc biệt, quan điểm triết học về nguồn gốc của sở hữu, 2 Khoa Luật - Đại học Huế (2012), Giáo trình “Pháp luật SHTT”, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. Lê Đình Nghị - TS. Vũ Thị Hải Yến (2016), “Giáo trình Luật SHTT”, Nxb.

Giáo dục Việt Nam, tr. 3 Kiều Thị Thanh (2013), “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.111-114; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), “Giáo trình Luật SHTT Việt Nam”, tlđd, tr.75 và Nguyễn Khánh Phương (2021), “Giới hạn QTG trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo pháp luật SHTT Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 4 Thuật ngữ “exception” xuất hiện ở Bỉ và trong đề xuất Chỉ thị Cộng đồng về việc hài hòa một số khía cạnh của QTG và QLQ trong xã hội thông tin; từ “limit” được sử dụng ở Đức và Tây Ban Nha; thuật ngữ “limitations” ở Thụy Điển, Hi Lạp; “restrictions” ở Thụy Sĩ, “authorized acts” ở Vương quốc Anh.

5 Lê Nết (2006), Tài liệu bài giảng “Quyền SHTT”, Nxb. Đại học quốc gia TP.15 và Trường Đại học Luật TP. HCM (2013), “Giáo trình Luật SHTT”, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, TP.

9 cơ sở của việc giới hạn quyền sở hữu, nền tảng triết học của giới hạn quyền SHTT nói chung thông qua việc phân tích quan điểm triết học của Locke và Hegel đã được đề cập khá cụ thể tại một số công trình nghiên cứu nước ngoài6. Bên cạnh đó, một số tài liệu đã thống nhất cho rằng học thuyết cân bằng lợi ích là cơ sở hình thành nên các quy định về giới hạn QTG, QLQ7. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm chỉ ra rằng pháp luật về QTG đặt ra cơ chế bảo hộ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể QTG, sau khi nhóm lợi ích này được thỏa mãn, chủ thể QTG có trách nhiệm chia sẻ thành quả sáng tạo để nhân loại có khả năng tiếp cận tri thức mới, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Công ước châu Âu về Quyền con người cho rằng không thể có bất cứ quyền tự do nào mà lại không thực hiện một trách nhiệm tương xứng8.

Ngoài ra, một số học thuyết làm cơ sở cho việc giới hạn QTG, QLQ như học thuyết hết quyền, học thuyết xử sự hợp lý (fair dealing doctrine) và học thuyết sử dụng công bằng (fair use doctrine) cũng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình. Trong đó, khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của thuyết hết quyền SHTT nói chung, mối quan hệ giữa thuyết hết quyền và thuyết bán lần đầu tiên và thuyết cho phép ngụ ý, điều kiện, hệ quả pháp lý, cơ chế hết quyền và tác động kinh tế, xã hội của mỗi cơ chế hết quyền đã được đề cập trong một số tài liệu9. Học thuyết “fair dealing” được phân tích khá chi tiết với tính chất là lập luận của bị đơn trong các vụ kiện xâm phạm QTG10, là các trường hợp ngoại lệ của hành vi xâm phạm QTG theo quy định của pháp luật Vương quốc Anh11. Bên cạnh học thuyết “fair dealing”, một số tài liệu cũng đã nghiên cứu khá chi tiết về bốn yếu tố cần xem xét khi đánh giá việc sử dụng tác phẩm trong học thuyết “fair use”, bình luận một số vụ việc liên quan đến “fair 6 Peter Drahos (2016), “A philosophy of Intellectual Property”, Australian National University; Saleena K.B (2011), “Exceptions and limitations to intellectual property rights with special reference to patent and copyright law”, Doctor of philosophy, Cochin University of Science and Technology, India, tr.

7 Lê Thị Nam Giang (2009), “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích xã hội”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2009, tr.26-33; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), “Giáo trình Luật SHTT”, tlđd, tr. 8 Nguyễn Phương Thảo (2021), “Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của quyền sử dụng tự do tác phẩm”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép, trích dẫn trong pháp luật về QTG từ thực tiễn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam”, Trường Đại học Luật TP. 9 Nguyễn Như Quỳnh (2011), “Hết quyền đối với nhãn hiệu và những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật nhãn hiệu của Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 Lionel Bently, Brad Sherman (2004), “Intellectual Property Law” - Second edition, Oxford University Press, New York, tr.

11 Vivien Irish (2005), “Intellectual Property Rights for Engineers – 2nd Edition”, The Institution of Engineering and Technology, London, tr. 10 use”12 cũng như chỉ ra ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng “fair use”13. Trong các tài liệu nước ngoài, học thuyết “fair use” được phân tích khá chi tiết từng yếu tố thông qua các vụ việc14, được đề cập dưới các khía cạnh như khái niệm và các nguyên tắc cơ bản, xác định các yếu tố của “fair use”, việc áp dụng và các trường hợp điển hình được coi là “fair use”15.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ