Chương 1: Những vấn đề lý luận về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan và pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam. Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam. 7 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan và pháp luật về giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan * Về quan niệm, đặc trưng của QTG, QLQ: - Quan niệm QTG, QLQ được nghiên cứu và xây dựng khá cụ thể trong các giáo trình, sách chuyên khảo, về cơ bản nhìn nhận dưới ba góc độ là chủ quan, khách quan và là một quan hệ pháp luật dân sự. Bên cạnh đó, một số tài liệu1 cũng phân tích những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm QTG của hệ thống châu Âu lục địa và hệ thống Anh – Mỹ. Đối với QLQ, “Giáo trình Luật SHTT” do TS.
Lê Đình Nghị và TS. Vũ Thị Hải Yến đồng chủ biên đã chỉ ra sự khác biệt trong xác định đối tượng bảo hộ của QLQ theo quy định của pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT cũng như một số quốc gia trên thế giới về bản ghi hình và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Khái niệm QLQ cũng được giải thích khá cụ thể trong Bảng chú giải thuật ngữ của WIPO về các điều khoản của Luật QTG và QLQ năm 1980. - Các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến một số đặc trưng cơ bản của QTG là được bảo hộ tự động; chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, không bảo hộ ý tưởng; đối tượng của QTG là các sản phẩm của hoạt động sáng tạo, không nhằm mục đích ứng dụng công nghiệp; QTG được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng, giá trị nghệ thuật.
Đáng chú ý, Giáo trình Luật SHTT Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017 còn đề cập đến đặc điểm là QTG không được bảo hộ một cách tuyệt đối. Về đặc trưng của QLQ, các công trình đều thống nhất QLQ là một quyền phái sinh từ QTG, có quan hệ mật thiết với QTG; đối tượng của QLQ được bảo hộ khi có tính nguyên gốc; QLQ chỉ được bảo hộ trong một thời hạn nhất định, kể cả các quyền nhân thân, QLQ được bảo hộ trên cơ sở không gây phương hại đến QTG và QLQ là quyền phái sinh nhưng là một loại quyền SHTT độc lập. * Về khái niệm, đặc điểm của giới hạn QTG, QLQ - Liên quan đến khái niệm giới hạn QTG, QLQ, tồn tại hai quan điểm trong các công trình nghiên cứu trước đây: (i) Quan điểm thứ nhất đồng nhất giới hạn QTG, QLQ với các trường hợp sử dụng mà không phải xin phép, không phải trả tiền và sử 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật SHTT, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.36-37; Kiều Thị Thanh (2002), “Bảo hộ pháp lý QTG”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12, Văn phòng Quốc hội, tr.
8 dụng mà không phải xin phép nhưng phải trả tiền trong pháp luật SHTT2; (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng giới hạn QTG theo nghĩa rộng là toàn bộ những quy định hạn chế QTG trong những trường hợp để bảo vệ lợi ích công cộng, bao gồm cả giới hạn về lãnh thổ, thời hạn bảo hộ, các đối tượng không được bảo hộ, chủ thể được bảo hộ và nội dung bảo hộ. Còn theo nghĩa hẹp, giới hạn QTG chỉ liên quan đến các giới hạn về nội dung QTG, theo đó QTG bị hạn chế trong những trường hợp người khác có thể sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép chủ sở hữu QTG, thậm chí không phải trả các lợi ích vật chất với những lí do chính đáng, hay với những điều kiện thỏa đáng. Giới hạn QTG dưới góc độ này còn được sử dụng với thuật ngữ là “các ngoại lệ”3. Trong tài liệu nghiên cứu của WIPO: “Exceptions and limits to copyright and neighboring rights”, Geneva, December 1999 có chỉ ra một số thuật ngữ liên quan đến giới hạn và ngoại lệ của QTG, QLQ theo pháp luật một số quốc gia4.
Tuy nhiên, tài liệu này chưa đi sâu nghiên cứu và chỉ ra sự khác nhau trong các thuật ngữ này. - Liên quan đến đặc điểm của giới hạn QTG, QLQ, cho đến nay về cơ bản chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến vấn đề này, chỉ có đặc điểm của giới hạn quyền SHCN đối với sáng chế được đề cập trong Luận văn Thạc sĩ Luật học: “Giới hạn quyền SHCN đối với sáng chế theo quy định của Hiệp định TRIPs và việc thực thi ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Dương năm 2017. * Về cơ sở lý luận của việc quy định giới hạn QTG, QLQ Cơ sở lý luận của việc quy định giới hạn QTG, QLQ đã được đề cập một cách khái quát trong một số công trình nghiên cứu khoa học đã công bố về QTG, QLQ. Đầu tiên phải kể đến một số quan điểm triết học là cơ sở cho việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và giới hạn quyền nói riêng như triết học về giá trị của lao động (của John Locke), về quyền tự do sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel), về phương tiện (của Jeremy Bentham)5.
Đặc biệt, quan điểm triết học về nguồn gốc của sở hữu, 2 Khoa Luật - Đại học Huế (2012), Giáo trình “Pháp luật SHTT”, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, tr. Lê Đình Nghị - TS. Vũ Thị Hải Yến (2016), “Giáo trình Luật SHTT”, Nxb.
Giáo dục Việt Nam, tr. 3 Kiều Thị Thanh (2013), “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.111-114; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), “Giáo trình Luật SHTT Việt Nam”, tlđd, tr.75 và Nguyễn Khánh Phương (2021), “Giới hạn QTG trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo pháp luật SHTT Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 4 Thuật ngữ “exception” xuất hiện ở Bỉ và trong đề xuất Chỉ thị Cộng đồng về việc hài hòa một số khía cạnh của QTG và QLQ trong xã hội thông tin; từ “limit” được sử dụng ở Đức và Tây Ban Nha; thuật ngữ “limitations” ở Thụy Điển, Hi Lạp; “restrictions” ở Thụy Sĩ, “authorized acts” ở Vương quốc Anh.
5 Lê Nết (2006), Tài liệu bài giảng “Quyền SHTT”, Nxb. Đại học quốc gia TP.15 và Trường Đại học Luật TP. HCM (2013), “Giáo trình Luật SHTT”, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, TP.
9 cơ sở của việc giới hạn quyền sở hữu, nền tảng triết học của giới hạn quyền SHTT nói chung thông qua việc phân tích quan điểm triết học của Locke và Hegel đã được đề cập khá cụ thể tại một số công trình nghiên cứu nước ngoài6. Bên cạnh đó, một số tài liệu đã thống nhất cho rằng học thuyết cân bằng lợi ích là cơ sở hình thành nên các quy định về giới hạn QTG, QLQ7. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm chỉ ra rằng pháp luật về QTG đặt ra cơ chế bảo hộ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của chủ thể QTG, sau khi nhóm lợi ích này được thỏa mãn, chủ thể QTG có trách nhiệm chia sẻ thành quả sáng tạo để nhân loại có khả năng tiếp cận tri thức mới, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Công ước châu Âu về Quyền con người cho rằng không thể có bất cứ quyền tự do nào mà lại không thực hiện một trách nhiệm tương xứng8.
Ngoài ra, một số học thuyết làm cơ sở cho việc giới hạn QTG, QLQ như học thuyết hết quyền, học thuyết xử sự hợp lý (fair dealing doctrine) và học thuyết sử dụng công bằng (fair use doctrine) cũng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình. Trong đó, khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của thuyết hết quyền SHTT nói chung, mối quan hệ giữa thuyết hết quyền và thuyết bán lần đầu tiên và thuyết cho phép ngụ ý, điều kiện, hệ quả pháp lý, cơ chế hết quyền và tác động kinh tế, xã hội của mỗi cơ chế hết quyền đã được đề cập trong một số tài liệu9. Học thuyết “fair dealing” được phân tích khá chi tiết với tính chất là lập luận của bị đơn trong các vụ kiện xâm phạm QTG10, là các trường hợp ngoại lệ của hành vi xâm phạm QTG theo quy định của pháp luật Vương quốc Anh11. Bên cạnh học thuyết “fair dealing”, một số tài liệu cũng đã nghiên cứu khá chi tiết về bốn yếu tố cần xem xét khi đánh giá việc sử dụng tác phẩm trong học thuyết “fair use”, bình luận một số vụ việc liên quan đến “fair 6 Peter Drahos (2016), “A philosophy of Intellectual Property”, Australian National University; Saleena K.B (2011), “Exceptions and limitations to intellectual property rights with special reference to patent and copyright law”, Doctor of philosophy, Cochin University of Science and Technology, India, tr.
7 Lê Thị Nam Giang (2009), “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích xã hội”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2009, tr.26-33; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), “Giáo trình Luật SHTT”, tlđd, tr. 8 Nguyễn Phương Thảo (2021), “Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của quyền sử dụng tự do tác phẩm”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép, trích dẫn trong pháp luật về QTG từ thực tiễn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam”, Trường Đại học Luật TP. 9 Nguyễn Như Quỳnh (2011), “Hết quyền đối với nhãn hiệu và những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật nhãn hiệu của Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10 Lionel Bently, Brad Sherman (2004), “Intellectual Property Law” - Second edition, Oxford University Press, New York, tr.
11 Vivien Irish (2005), “Intellectual Property Rights for Engineers – 2nd Edition”, The Institution of Engineering and Technology, London, tr. 10 use”12 cũng như chỉ ra ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng “fair use”13. Trong các tài liệu nước ngoài, học thuyết “fair use” được phân tích khá chi tiết từng yếu tố thông qua các vụ việc14, được đề cập dưới các khía cạnh như khái niệm và các nguyên tắc cơ bản, xác định các yếu tố của “fair use”, việc áp dụng và các trường hợp điển hình được coi là “fair use”15.