CHƯƠNG 1 LY LUAN VA PHAP LUAT VE GIOI HAN QUYEN CON NGƯỜI, TAM DINH CHi QUYEN CON NGUOI 1. Khái quát về giới hạn quyền con người, tạm đình chỉ quyền con người 1. Khái niệm và nguyên tắc giới hạn quyền con người, tạm đình chỉ quyền con người Giới hạn quyền con người (limitation of rights) là quy định được ghi nhận trong một số điều ước quốc tế về quyền con người mà cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện, giới hạn với việc thực hiện/hưởng thụ một số quyền con người nhất định. Hay nói một cách khác, các quyền con người được thực hiện trong một khuôn khô nhất định.
Trong xã hội pháp quyền và tự do, hầu hết các quyền đều có những giới hạn nhất định. Tuy vậy, không phải tất cả mọi quyền con đều có thê bị giới hạn. Một số quyền không thê bị giới hạn được gọi là các quyền tuyệt đối, theo ICCPR gồm quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục (Điều 7), quyền không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch (Điều 8), quyền không bị bỏ tủ chỉ vì lý do không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11), quyền không bị áp dụng hồi tố trong tô tụng hình sự (Điều 15), quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật (Điều 16) [1]. Các nguyên tắc của việc giới hạn quyền con người dựa trên e Nguyên tắc bảo vệ quyền con người Mục đích của giới hạn quyền con người cũng là để bảo vệ quyền con người.
Bởi lẽ “việc giới hạn và hạn chế quyên là những yêu cầu xuất phát từ thực tế cuộc sống mà đã được luật nhân quyền quốc tế ghi nhận, với mục đích chính là để ngăn ngừa sự tùy tiện của các nhà nước trong việc thực thi quyền con người, chứ không phải là đê cung câp công cụ cho các nhà nước vi phạm các quyền đó” [6]. Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người là một trong nguyên tac trong tô chức, vận hành cơ chế giới hạn quyền con người. Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, các thiết chế nhà nước có thâm quyền giới hạn quyền con người phải được tổ chức và hoạt động đảm bảo nguyên tắc phân quyền trong tổ chức kỹ thuật quyền lực nhà nước (ở Việt Nam là nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp hành pháp và tư pháp). Thứ hai, nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong cơ chế giới hạn quyền con người đòi hỏi cần minh định thâm quyền của các cơ quan, cá nhân đại diện cho quyền lực nhà nước.
Trong tiếng Pháp, “thẩm quyén” - competence, được hiểu là quyền của một cơ quan nhà nước, hành chính hay tư pháp, một quan chức hành chính hay tư pháp được làm một số việc, được quyết định và ra một số văn bản về một số vấn đề trong phạm vi được pháp luật cho phép. Như vậy, về mặt ngôn ngữ thuật ngữ “thâm quyền” trong ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Pháp có điểm tương đồng là đều được quan niệm là quyền xem xét, quyết định, giải quyết một vấn đề, hay vụ việc nào đó [15]. Thứ ba, nguyên tắc vận hành của cơ chế hạn chế đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ quyền con người. Ở Việt Nam thì cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án trước các vi phạm về giới hạn quyền con người còn rất mờ nhạt.
Nguy cơ xâm phạm đến quyền con người trong việc giới hạn quyền con người được thực hiện trước hết đến từ các các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Thực tiễn Việt nam thời gian qua cho thấy đã xuất hiện đạo luật có dấu hiệu vi hiến trong việc giới hạn quyền con người (Điều 5, Thông tư 01/2016 của Bộ Công an quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung kiểm tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông, lực lượng này có quyền trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện liên lạc, các phương tiện, thiết bị kỹ thuật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Điều này có nghĩa, bất cứ loại phương tiện hay các thiết bị nói trên đều nằm trong diện có nguy cơ bị CSGT trưng dụng bất cứ lúc nào). Tuy nhiên, cơ chế để xử lý các văn bản quy phạm pháp luật như vậy không do Tòa án phán quyết mà bằng các cách như: cơ quan ban hành văn bản tự hủy bỏ, cơ quan cấp trên, quốc hội, Hội đồng nhân dân đình chỉ, hủy bỏ.
Thực tế cho thấy việc hủy bỏ các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi hiến như trên là rất ít. e Nguyên tắc giới hạn quyền con người không được trái Hiến pháp và pháp luật (giới hạn quyền con người trên cơ sở luật định) Điều 29 của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 đã tuyên bố: Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do pháp luật quy định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhăm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. Cụ thể hóa tư tưởng này, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2, Điều 14). Quan điểm có tính chất chỉ đạo ở đây đó là việc giới hạn quyền con người không thê tùy tiện mà phải được hiến định và được luật hóa.
Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã hiến định nguyên tắc này. Theo đó, không ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền, ngoại trừ các trường hợp cần thiết nói trên do Luật định. Điêu này xác lập nguyên tắc quyên con người, quyên công dân chỉ 10 bị hạn chế băng Luật chứ không phải các văn bản dưới luật. Đây được coi là điểm sáng của Hiến pháp 2013 và kỳ vọng sẽ hạn chế tình trạng giới hạn quyền con người một cách tùy tiện nhất là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay khi luật cần có các văn bản hướng dẫn dưới luật mới thi hành được.
Và thực tế ở Việt Nam cho thấy, một khi các đạo luật đang còn quá phụ thuộc vào sự chỉ tiết hóa của các văn bản dưới luật, không thể không cho phép các văn bản dưới luật hạn chế quyền [3]. e Nguyên tắc bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, công dân Nguyên tắc này hướng tới mục đích của giới hạn quyền con người nói chung và mục đích hướng tới của cơ chế giới hạn quyền con người là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của người khác theo đúng triết lý của hạn chế quyền nguyên tắc này là thừa nhận sự xung đột giữa quyền của người này với quyền của người khác cũng như với lợi ích chung của toàn xã hội. Đây là điều không thể tránh khỏi vì bảo vệ phạm vi tự do chính đáng của người này cũng chính là sự hạn chế tự do của người khác. Nguyên tắc này đảm bảo một không gian hợp lý để công dân “tự do” thực hiện quyền của mình, miễn là không lấn vào những phần bị nhà nước “hạn chế”.
Các quyền “tự do” không phải là tự do tuyệt đối. Ở thời đại ngày nay, mọi quốc gia giống nhau ở chỗ đều công nhận các quyền và tự do cơ bản và chỉ khác nhau ở phạm vi các quyên bị hạn chế và phương pháp đặt ra vùng bị hạn chế đó. Lợi ích nhà nước không xuất hiện trong Hiến pháp Việt Nam cũng rất hiếm trong Hiến pháp các nước trên thế giới trong khi quy định giới hạn quyền (Điều 51 Hiến pháp Trung Quốc: “Công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khi thực hiện quyền tự do và quyền lợi của mình không được xâm hại đến tự do và quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tập thể và công dân khác”). Nhưng trong pháp luật Việt Nam lại rất hay được nhắc 11 đến.
Vấn đề quan trọng mà nguyên tắc này đòi hỏi đó chính là làm rõ thế nào là lợi ích nhà nước? Và mối quan hệ ưu tiến giữa lợi ích nhà nước và lợi ích của cá nhân? Giới hạn quyền con người khác với tạm đình chỉ quyền con người. Về nguyên tắc, các nghĩa vụ quốc gia trong việc thực hiện quyền con người mang tính liên tục; tuy nhiên, Điều 4 Công ước quốc tế vỀ các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) quy định rằng, trong những bối cảnh khân cấp đe dọa sự sống còn của đất nước (state of emergency), các quốc gia có thể áp dụng những biện pháp tạm đình chỉ việc thực hiện các quyền con người (Derogation of rights) nêu trong Công ước này. Những quy định kế trên chính là sự tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự, chính trị trong một thời gian nhất định do bối cảnh khan cap của quốc gia, thông qua một số biện pháp cụ thể như: thiết quân luật (trên cả nước, ở một khu vực hay một địa phương); cam biểu tình, hội họp đông người; cấm hoặc hạn chế hoạt động của một SỐ CƠ quan thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo.; cấm đi lại ra, vào một khu vực hoặc xuất, nhập cảnh (với một số cá nhân hay nhóm). Việc đình chỉ quyền con người mạng tính tạm thời như là giải pháp khả thi cuối cùng để giải quyết vấn đề đe dọa đến quốc gia, còn giới hạn quyền con người mang tính chất như là vạch ra ranh giới, phạm vi quyền được bảo vệ [2].
Việc tạm đình chỉ cũng có thể áp dụng đối với hầu hết các quyền con người (trừ các quyền tuyệt đối như đã nêu ở trên). Vi tri, vai tro của nguyên tac giới hạn quyền con ngwoi, tam đình chỉ quyền con người Trong một xã hội luôn luôn tồn tại rất nhiều môi quan hệ, chúng qua lại tác động lẫn nhau. Sự xuất hiện nhà nước, pháp luật là đề điều chỉnh những moi quan hé ay, định hướng cho xã hội phát triển theo một mục tiêu, trật tự phù hợp. Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong xã hội.
Không chỉ duy 12 trì trật tự xã hội nhà nước còn phải đảm bảo cho mỗi người được thụ hưởng, thực hiện quyền của mình. Đề dung hòa các mỗi quan hệ trong xã hội thì cần phải có sự hạn chế quyền này để không ảnh hưởng tới những quyền khác.