Giáo trình Vi mạch tương tự nghề Điện tử công nghiệp phần 2 - Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp

Giáo trình Vi mạch tương tự Điện tử công nghiệp CĐTC Phần 2 cung cấp kiến thức chuyên sâu về thiết kế và ứng dụng vi mạch trong công nghiệp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình
76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

3. BÀI 3 MẠCH DAO ĐỘNG

3.1. Mạch dao động sin

3.1.1. Khảo sát mạch dao động sin ở tần số thấp

3.2. Mạch dao động không sin

3.2.1. Mạch dao động cầu T kép 1 kHz

3.2.2. Dao động cầu T kép ổn định bằng diode

3.2.3. Mạch dao động cầu Wien 150 Hz – 1,5 KHz

3.2.4. Mạch dao động Wien ổn định bằng diode

3.2.5. Mạch dao động Wien ổn định bằng diode zener

3.2.6. Dao động Wien một nguồn cung cấp

3.2.7. Mạch dao động tremolo

3.3. Mạch tạo sóng đặc biệt

3.3.1. Mạch dao động tích thoát

3.3.2. Dao động sóng vuông 500 Hz – 5 KHz

3.3.3. Dao động vuông 500 Hz – 5 KHz có cải tiến

3.3.4. Mạch tạo âm bằng nút nhấn

3.3.5. Dao động vuông thay đổi được tần số và bề rộng xung

3.3.6. Mạch tạo sóng tam giác 300 Hz độ dốc thay đổi

3.3.7. Mạch tạo sóng tam giác/vuông 100 Hz – 1 KHz

3.3.8. Bộ biến đổi cho mạch tạo hàm có bề rộng xung thay đổi

3.3.9. Bộ biến đổi tín hiệu độ dốc thành sin

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình vi mạch tương tự nghề điện tử công nghiệp CĐTC

Giáo trình vi mạch tương tự là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo nghề điện tử công nghiệp tại Trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp. Nội dung giáo trình không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên nắm vững các kỹ năng thực hành cần thiết. Mạch vi mạch tương tự được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị điện tử, từ mạch khuếch đại đến mạch dao động. Việc hiểu rõ về cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các mạch này là rất cần thiết cho sinh viên trong ngành điện tử.

1.1. Mục tiêu của giáo trình vi mạch tương tự

Mục tiêu chính của giáo trình là giúp sinh viên hiểu rõ về cấu tạo, nguyên lý hoạt động của các mạch vi mạch tương tự. Sinh viên sẽ được học cách thiết kế và thực hiện các mạch vi mạch theo yêu cầu kỹ thuật, từ đó rèn luyện tính tỷ mỉ, chính xác và an toàn trong công việc.

1.2. Nội dung chính của giáo trình

Giáo trình bao gồm các nội dung chính như mạch dao động sin, mạch dao động không sin và mạch tạo sóng đặc biệt. Mỗi phần sẽ được trình bày chi tiết về cấu tạo, nguyên lý hoạt động và ứng dụng thực tiễn của từng loại mạch.

II. Vấn đề và thách thức trong việc học vi mạch tương tự

Việc học vi mạch tương tự không chỉ đơn thuần là tiếp thu lý thuyết mà còn đòi hỏi sinh viên phải thực hành nhiều. Một trong những thách thức lớn nhất là khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tế. Sinh viên thường gặp khó khăn trong việc hiểu rõ các khái niệm phức tạp và cách thức hoạt động của các linh kiện trong mạch. Ngoài ra, việc thực hiện các mạch vi mạch cũng yêu cầu sự chính xác cao và kỹ năng thực hành tốt.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc chuyển đổi kiến thức lý thuyết thành kỹ năng thực hành. Điều này có thể dẫn đến việc không thể thực hiện đúng các mạch vi mạch theo yêu cầu kỹ thuật.

2.2. Yêu cầu về kỹ năng thực hành

Kỹ năng thực hành là yếu tố quan trọng trong việc học vi mạch tương tự. Sinh viên cần phải rèn luyện thường xuyên để có thể thực hiện các mạch một cách chính xác và an toàn.

III. Phương pháp học hiệu quả cho vi mạch tương tự

Để học tốt vi mạch tương tự, sinh viên cần áp dụng các phương pháp học tập hiệu quả. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là rất quan trọng. Sinh viên nên tham gia các buổi thực hành tại phòng thí nghiệm để có thể áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Ngoài ra, việc tự học và nghiên cứu tài liệu cũng giúp sinh viên nắm vững kiến thức hơn.

3.1. Kết hợp lý thuyết và thực hành

Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm trong vi mạch tương tự. Thực hành thường xuyên sẽ giúp sinh viên nắm vững kỹ năng cần thiết.

3.2. Tự học và nghiên cứu tài liệu

Sinh viên nên chủ động tìm kiếm tài liệu và tự học để nâng cao kiến thức. Việc nghiên cứu tài liệu sẽ giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề trong vi mạch tương tự.

IV. Ứng dụng thực tiễn của vi mạch tương tự trong ngành điện tử

Vi mạch tương tự có nhiều ứng dụng trong ngành điện tử, từ các thiết bị gia dụng đến các hệ thống viễn thông. Các mạch dao động, mạch khuếch đại và mạch tạo sóng đều là những ứng dụng phổ biến. Việc hiểu rõ về các ứng dụng này sẽ giúp sinh viên có cái nhìn tổng quan hơn về ngành điện tử và khả năng phát triển nghề nghiệp trong tương lai.

4.1. Ứng dụng trong thiết bị gia dụng

Các mạch vi mạch tương tự được sử dụng trong nhiều thiết bị gia dụng như máy nghe nhạc, tivi và các thiết bị điện tử khác. Việc hiểu rõ về các mạch này giúp sinh viên có thể thiết kế và cải tiến các sản phẩm điện tử.

4.2. Ứng dụng trong hệ thống viễn thông

Trong ngành viễn thông, các mạch dao động và mạch khuếch đại đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải tín hiệu. Sinh viên cần nắm vững các nguyên lý hoạt động của các mạch này để có thể tham gia vào các dự án viễn thông trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của vi mạch tương tự trong giáo dục nghề nghiệp

Vi mạch tương tự là một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo nghề điện tử công nghiệp. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, nhu cầu về kỹ sư điện tử có kiến thức vững về vi mạch tương tự ngày càng tăng. Việc cải tiến giáo trình và phương pháp giảng dạy sẽ giúp sinh viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

5.1. Tương lai của giáo trình vi mạch tương tự

Giáo trình vi mạch tương tự cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của công nghệ. Việc tích hợp các công nghệ mới vào giáo trình sẽ giúp sinh viên có kiến thức hiện đại và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của ngành.

5.2. Vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong phát triển kỹ năng

Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng cho sinh viên. Việc đào tạo chuyên sâu về vi mạch tương tự sẽ giúp sinh viên có cơ hội việc làm tốt hơn trong tương lai.

16/08/2025
Giáo trình vi mạch tương tự nghề điện tử công nghiệp cđtc phần 2 trường cao đẳng nghề đồng tháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

- 52 - BÀI 3 MẠCH DAO ĐỘNG M ã bài: 12-3 Giới thiệu Ngoài các mạch khuếch đại điện thế và công suất, dao động cũng là loại mạch căn bản của ngành điện tử. Mạch dao động được sử dụng phổ biến trong các thiết bị viễn thông. Một cách đơn giản, mạch dao động là mạch tạo ra tín hiệu. Tổng quát, người ta thường chia ra làm 2 loại mạch dao động: Dao động điều hòa (harmonic oscillators) tạo ra các sóng sin và dao động tích thoát (thư giãn - relaxation oscillators) thường tạo ra các tín hiệu không sin như răng cưa, tam giác, vuông (sawtooth, triangular, square).

Mục tiêu: - Trình bày được cấu tạo, nguyên lý hoạt động các mạch dao động sin, mạch dao động không sin, mạch tạo sóng đặc biệt - Thực hiện các mạch dao động đúng yêu cầu kỹ thuật - Rèn luyện tính tỷ mỉ, chính xác, an toàn và vệ sinh công nghiệp Nội dung chính 1. Mạch dao động sin Mục tiêu + Hiểu được nguyên lý mạch dao động sin + Cách tạo ra mạchdao động sin + Cách tạo ra các dạng sòng đặc biệt Người ta có thể tạo dao động hình Sin từ các linh kiện L - C hoặc từ thạch anh. Mạch dao động hình Sin dùng L – C - 53 - Mach dao động trên có tụ C1 // L1 tạo thành mạch dao động L -C Để duy trì sự dao động này thì tín hiệu dao động được đưa vào chân B của Transistor, R1 là trở định thiên cho Transistor, R2 là trở gánh để lấy ra tín hiệu dao động ra , cuộn dây đấu từ chân E Transistor xuống mass có tác dụng lấy hồi tiếp để duy trì dao động. Tần số dao động của mạch phụ thuộc vào C1 và L1 theo công thức Mạch dao động hình sin dùng thạch anh.

X1 : là thạch anh tạo dao động , tần số dao động được ghi trên thân của thach anh, khi thạch anh được cấp điện thì nó tự dao động ra sóng hình sin.thạch anh thường có tần số dao động từ vài trăm KHz đến vài chục MHz. Transistor Q1 khuyếch đại tín hiệu dao động từ thạch anh và cuối cùng tín hiệu được lấy ra ở chân C. R1 vừa là điện trở cấp nguồn cho thạch anh vừa định thiên cho Transistor Q1 R2 là trở ghánh tạo ra sụt áp để lấy ra tín hiệu. Thạch anh dùng để dao động 1.1 Khảo sát mạch dao động sin ở tần số thấp - 54 - Ta xem lại mạch khuếch đại có hồi tiếp - Nếu pha của vf lệch 1800 so với vs ta có hồi tiếp âm.

- Nếu pha của vf cùng pha với vs (hay lệch 3600) ta có hồi tiếp dương. Ðộ lợi của mạch khi có hồi tiếp: Trường hợp đặc biệt βAv = 1 được gọi là chuẩn cứ Barkausen (Barkausencriteria), lúc này Af trở nên vô hạn, nghĩa là khi không có tín hiệu nguồn vs mà vẫn có tín hiệu ra v0, tức mạch tự tạo ra tín hiệu và được gọi là mạch dao động. Tóm lại điều kiện để có dao động là: βAv=1 θA + θB = 0 (3600 ) điều kiện này chỉ thỏa ở một tần số nào đó, nghĩa là trong hệ thống hồi tiếp dương phải có mạch chọn tần số. Nếu βAv >> 1 (đúng điều kiện pha) thì mạch dao động đạt ổn định nhanh nhưng dạng sóng méo nhiều (thiên về vuông) còn nếu βAv > 1 và gần bằng 1 thì mạch đạt đến độ ổn định chậm nhưng dạng sóng ra ít méo.

Còn nếu βAv < 1 thì mạch không dao động được. Dao động dịch pha (phase shift oscillator): a. Nguyên tắc: - 55 - - Do op-amp có tổng trở vào rất lớn và tổng trở ra không đáng kể nên mạch dao động này minh họa rất tốt cho chuẩn cứ Barkausen. Mạch căn bản được minh họa như sau - Tần số dao động được xác định bởi: 2.

Mạch dao động không sin 2.1 Mạch dao động cầu T kép 1 khz Các bộ KĐTT có thể được dùng trong những ứng dụng tạo sóng, chúng có thể thuyực hiện chức năng tạo sóng sin, sóng vuông, tam giác…với tần số thấp vài Hz đến tần số cao khoảng 20 KHz. Sóng sin tần số thấp có thể được tạo ra bằng nhiều cách. Một cách rất đơn giản là ghép một mạch cầu T kép giữa đầu ra với đầu vào của mạch khuếch đại đảo dùng KĐTT như ở hình 3. Mạch cầu T kép gồm R1-R2-R3-R4 và C1-C2-C3, mạch cầu T kép được gọi là cân bằng khi R1 = R2 = 2(R3 + R4) và C1 = C2 = C3/2.

Khi mạch hoàn toàn cân bằng nó sẽ trở thành bộ suy giảm phụ thuộc tần số, triệt hoàn toàn tín hiệu ra tại tần số trung tâm f = 1/6,28 R1C1 và cho các tần số - 56 - khác truyền qua. Khi cầu không hoàn toàn cân bằng, nó vẫn đóng vai trò suy giảm nhưng lúc này có tín hiệu ra tại tần số trung tâm, và pha tín hiệu ra phụ thuộc vào chiều hướng mất cân bằng. Nếu 2(R3 + R4) nhỏ hơn R1 và R2 thì tín hiệu ra ngược pha với tín hiệu vào.1 Mạch dao động cầu T kép 1 KHz Trong sơ đồ tín hiệu vào của mạch cầu T kép lấy từ đầu ra của KĐTT, đầu ra của nó lại đưa vào đầu vào đảo của KĐTT và R4 được hiệu chỉnh cẩn thận sao cho cầu T kép có điện áp ra nhỏ tại tần số trung tâm, tín hiệu ra này sẽ ngược pha với tín hiệu vào. Như vậy có hồi tiếp dương tại tần số trung tâm và mạch dao động tại tần số này, giá trị này trong sơ đồ khoảng 1 KHz.

Biên độ ra có thể thay đổi từ 0 đến 5 V hiệu dụng nhờ R7, nên chỉnh R4 sao cho mạch vừa đúng dao động, khi đó tín hiệu ra có độ méo toàn phần <1%. Biên độ ra không thể tăng vọt cao quá nhờ đặc tuyến phi tuyến của KĐTT sẽ tự động điều chỉnh biên độ khi tín hiệu ra đạt đến mức bảo hòa của đặc tuyến.2 Dao động cầu T kép ổn định bằng diode Mạch dao động 1 KHz ở hình 3.2 xử dụng một phương pháp khác để tự động điều chỉnh biên độ. Diode silic D1 được nối giữa đầu ra với đầu vào của KĐTT qua biến trở phân áp R7. Khi điện áp trên diode vượt quá vài trăm mV, diode sẽ dẫn và làm giảm độ lợi của mạch.

Do đó, nó đóng vai trò điều chỉnh biên độ - 57 - Hình 3.2 Dao động cầu T kép ổn định bằng diode Để chỉnh mạch ở hình 3. Trước tiên đặt con trượt của R7 tại điểm nối với đầu ra KĐTT, bây giờ chỉnh R4 để không có dao động, sau đó thay đổi R4 thật chậm cho đến khi bắt đầu xuất hiện dao động. Lúc này tín hiệu sin ra có biên độ khoảng 500 mVP-P hay 170mV hiệu dụng và quá trình cân chỉnh đẫ hoàn tất. Khi đó R7 có thể dùng để thay đổi tín hiệu ra từ 170 mV đến 3 V hiệu dụng với độ méo không đáng kể.

Các mạch trong 2 sơ đồ trên dùng làm bộ dao động tần số cố định rất tốt nhưng không thể tạo ra nhiều tần số khác nhau do khó thay đổi cùng lúc ba hay bốn thành phần của cầu T kép. Tuy nhiên, bằng cách ghép mạch lọc Wien với KĐTT có thể tạo ra mạch dao động nhiều tần số khác nhau như ở hình 3.3 Mạch dao động cầu Wien 150 Hz – 1,5 KHz Tần số ra của các mạch này có thể thay đổi mười lần nhờ bộ biến trở đôi R2 và R3, các mạch này chỉ khác nhau ở cách tự động điều chỉnh biên độ. Trong các sơ đồ, mạch lọc Wien gồm R1-R2-R3-R4 và C1-C2 nối giữa đầu ra với đầu vào không đảo của KĐTT và một cầu phân áp tự động điều chỉnh biên độ nối giữa đầu ra với đầu vào đảo. Cầu Wien thực chất là một mạch suy giảm phụ thuộc tần số có hệ số suy giảm là 1/3 tại tần số trung tâm.

Do đó để có được sóng sin ít méo thì phần điều chỉnh biên độ của mạch luôn tự động thay đổi để bảo đảm duy trì độ lợi toàn phần của mạch gần bằng 1 - 58 - Hình 3.3 Mạch dao động cầu Wien 150 Hz – 1,5 KHz Mạch hình 3.3 tự động điều chỉnh biên độ bằng cách nối tiếp R5 và đèn tim LMP1 tạo thành một cầu phân áp tự điều chỉnh. Đèn được chọn tùy ý từ 12 V đến 28 V và có dòng danh định nhỏ hơn 50 mA. Khi mạch đã hiệu chỉnh đúng, sóng sin ra có độ méo sóng hài khoảng 0,1% và mạch đòi hỏi nguồn cấp dòng khoảng 6 mA. Mạch này được hiệu chỉnh bằng cách đặt R6 ở mức ra cao nhất rồi chỉnh R5 để có đầu ra khoảng 2,5 V hiệu dụng.4 Mạch dao động Wien ổn định bằng diode Hình 3.4 Mạch dao động Wien ổn định bằng diode Các mạch hình 3.4 xử dụng diode chỉnh lưu hay diode zener để ổn định độ lợi toàn phần.

Cả hai dạng mạch này có độ méo từ 1 đến 2% - 59 - nhưng lại có ưư điểm là không gây ra những biến động về biên độ khi thay đổi tần số. Biên độ ra đỉnh-đỉnh của mỗi mạch lớn nhất là bằng hai lần điện áp chuyển trạng thái của các diode.11 gồm các diode bắt đầu dẫn tại 500 mV nên biên độ đỉnh-đỉnh lớn nhất chỉ là 1 V, còn các diode ở hình 3.12 là loại diode zener có điện áp đánh thủng cao khoảng 5,6 V nên biên độ ra đỉnh-đỉnh lớn nhất lên đến 12 V.5 Mạch dao động Wien ổn định bằng diode zener Hình 3.5 Mạch dao động Wien ổn định bằng diode zener Quá trình hiệu chỉnh các mạch ở hình 3.5 như sau: Đầu tiên, thay đổi R5 sao cho mạch đạt đến trạng thái ổn định với độ méo thấp nhất. sau đó thay đổi tần số ra và kiểm tra để chắc chắn có dao động với mọi tần số. Nếu cần tìm những tần số mà tại đó dao động yếu rồi chỉnh R5 để thu được dao động tốt, khi đó mạch sẽ làm việc tốt trong toàn bộ dải tần.

Mức ổn định trong toàn dải tần phụ thuộc vào mức đồng nhất giữa các biến trở R2-R3 và biến trở đôi này nên dùng loại chất lượng tốt.5 được thiết kế để dao động từ 150 Hz đến 1,5 KHz. Nếu cần, dải tần có thể thay đổi được bằng cách dùng những tụ C1 và C2 khác nhau, tăng điện dung sẽ làm giảm tần số. Tần số ra cao nhất với độ méo thấp của mỗi mạch khoảng 25 KHz, do tốc độ quét của 741 có giới hạn. Mạch dao động Wien có thể được thay đổi theo nhiều cách tùy theo yêu cầu cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ