mở đầu cho loại tiểu thuyết lịch sử với tác phẩm Xiróp#di, Hí Lạp cổ đại còn là miếng đất màu mỡ đối với sự phát triển của triết bọc. Từ thế kỈ thứ VĨ tr.CN đã có những triết gia tên tuổi - và ngay từ buổi ban đầu này, họ sớm có những suy tư về nguồn gốc của thế giới và vạn vật. Và cũng chính từ xuất phát điểm ấy mà cuộc đấu tranh giữa hai trường phái duy tâm và duy vật đã nảy sính ngay từ lúc sơ khai của triết bọc. Talex do Miiê (Thalès de Milet}, mot trong bảy người hiến của toàn Hi Lạp, người đồng thời với Xôlông, vừa là bác học vừa là triết gia.
Là nhà bác học, ông có nhiều sáng tạo phát minh nổi tiếng mà ngày nay vẫn còn có giá trị. Là triết gia, ông đã nơi lên tiếng nơi của trí tuệ con người, đã phá đầu óc mê tín cho "thần là ké sáng tạo ra vạn vật". Ông cho rằng "thế giới là do vật chất tạo thành" "vật chất là có mãi". Với Hêraclit, tư tường biện chứng đã được khẳng định với những câu nói nổi tiếng : "Người ta không bao giờ có thể tắm hai lần trong một dòng sông” mọi sự vật đều chuyển động, mọi sự vật đều biến đổi.
Rồi Empedôclơ (Empédocle) với thuyết nguyên tố và sự phát triển luận thuyết này của Đêmôcrit (Démoerite) để đi đến nhạn định chuẩn xác : "Mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là cái kết quà sức hấp dẫn của các nguyên tố tác động lân nhau mà sinh ra, và mọi biến động trong thế giới vật chất đều là những hiện tượng tự nhiên, và hợp với quy luật", Prôtagôrax (Protagoras) đã đưa triết học tiến lén một bước với việc chuyển biến mục đích nghiên cứu của triết học, không tìm cách giải thích vũ trụ nữa mà đi vào nghiên cứu đời sống xã hội, chính trị, con người. "Bán thân con người là cái thước để đo lường tất cà mọi sự vật". Ông nổi tiếng với những câu nơi : "Tôi biết rằng tôi không biết gì hết", "Anh hãy tự biết lấy anh". Thái độ hoài nghỉ của ông đối với mọi vấn đề, mọi sự vật trong cuộc sống là cả một sự khẳng định vai trò của trí tuệ con người.
Platông (Platon), người phát triển triết học duy tâm ở mức cao nhất và Arixtôt (Ariatote), học trò ông, là nhà học giả lối lạc đã thâu tóm và tổng kết toàn bộ nền triết học và khoa học Hi Lạp thời bấy giờ. Mặc dù là "kế đi lầm đường", bản thân Arixtôt vẫn là một "bộ bách khoa toàn thư" sống. Sau Arixtôt là Epieuya (Epicure) với thuyết nguyên tử lượng ; ông là người chống lại mọi quan điểm tôn giáo và mọi thứ mê tín. Mac và Ăngghen coi Epicuza là “người duy nhất trong thời cổ đại muốn đem lại ánh sáng cho trí tuệ con người.
Đó là những triết gia tiêu biểu của triết học Hi Lạp cổ đại dã đưa nền triết học của nhân loại phát triển lên một mức khá cao. Cuộc đấu tranh giữa hai phái duy tâm và duy vật phân ánh cuộc đấu tranh của những lực lượng tiến bộ và lạc hậu của thời đại. Sau cuộc đông chỉnh của Alêcxăngdrơ đại đế, đất nước Hi Lạp mở rộng về phía đông bao gồm của vùng Tiểu Á Phênixi, Palextin, sang tận Ai Cap. Thủ đô mới Alêcxăngđri với ngọn hải đăng là một kÌ quan của thế giới, nằm bên bờ Địa Trung Hải đã thể hiện uy quyền của nhà vua trẻ tuổi anh hùng.
Trung tâm văn hoá của Hi Lạp đã vì vậy mà chuyển dần từ Aten về thủ đô mới. Văn học Hi Lạp từ đây cũng phát triển theo xu hướng bác học. Nhiều công trình đồ sộ xuất hiện như Lịch sử tùng thu cua Diédo do Xixin gém 40 tập, hoặc những bản dịch Cựu thánh thư của nhớm 72 nhà bác học. Trong thời kÌ này chỉ đuy có nhà thơ Têôcrit là đi vào loại mục ca để sáng tác nên những bài thơ về đồng quê Acadi nên thơ, bình đị.
Đó là những kiệt tác của nhà thơ cuối cùng của cổ đại Hi Lap. Đế quốc Hi Lạp sụp đố cùng với cái chết bất ngờ của Alêexăngdrd đại đế (328 tr. Dế quốc La Mã bên kia bờ Dịa Trung Hải nổi lên làm lu md "thiên tài Hi Lạp". Hì Lạp trở thành một.
tỉnh của đế quốc La Mã sau thế kỉ I tr. Thể văn trào phúng được vận dụng khá phổ biến qua những tác phẩm của Babriuyx (người soạn lại truyện ngụ ngôn của Êzôp), Tuyxiêng, Pluytac. Đế quốc La Mã sụp đổ (thé ki IV), mot nước Hi Lạp Thiên Chúa giáo của thời kì Bizăngtanh đã thay thé cho một Hi Lạp eổ đại eó nền văn hoá tràn đầy tỉnh thần nhân văn. Và đo đó, nền văn học của nó cũng rơi vào sự thấp kém về nghệ thuật, chỉ eó tác dụng "giúp cho chúng ta nhiều tài liệu để tìm hiểu một xã hội Ít ai biết đến" (Raoul Veze).
Thiên tài Hi Lạp "rõ ràng chỉ có thể là sản phẩm của một chế độ xã hội nhất định, của một thời kì lịch sử nhất định. Trong Phé phén chính trị kính tế học, Cao Mac nhận định : "Nghệ thuật và thơ ca của người Hi Lạp đến ngày nay vẫn còn giữ được giá trị làm mẫu mực của nó, chưa ai vượt qua nổi". 20 CHUONG HAI THAN THOAI HI LAP Thần thoại Hi Lạp phong phú, đẹp đề và được các học giả xếp vào hàng những thần thoại hay nhất thế giới. Nhan dân Hì Lạp, trước khi có chữ viết, đã sáng tác ra những câu chuyện kì diệu nay dé gui gdm vào đổ nhận thức về thế giới, kinh nghiệm sống, ước mø khát vọng của mình trong hoàn cảnh xã hội cộng đồng thị bộc.
Đớ là thời kì lịch sử mà việc chỉnh phục các lực lượng tự phát của tự nhiên đã kéo dài một cách vô cùng chậm chạp vÌ công cụ sản xuất rất thô sơ. Qua những câu chuyện thần thoai cia minh, người Hỉ Lạp đã tự lấy mình làm thước đo vũ trụ. Do đó, cũng giống như thần thoại các nước nối chung, thần thoại Hỉ Lạp, như lồi Mac noi, "dùng tưởng tượng và mượn tưởng tượng để giải thích tự nhiên và chỉnh phục tự nhiên". Cho nên "bàn chất của thần thoại Hi Lạp là tự nhiên và chính là các hình thái xã hội được trí tường tượng của nhân dân xây dựng nên một cách có hệ thống, có nghệ thuật nhưng không tự giác.
Ý thức hệ trong thần thoại là ý thức hệ thần linh chủ nghĩa. Những sinh vật, những hiện tượng tự nhiên và cả những vật thể vô tri vô giác mà con người không hiểu nổi đều được gán cho một sức sống. một sức mạnh thần bi nao dé. Tuy nhiên, điều cẩn chú ý đặc biệt là trong thần thoại Hi Lạp, thế giới quan thần lình chủ nghĩa ấy đượm rnàu sắc hiện thực và duy vật (tuy còn dừng ở mức thô sơ).
Không những thế, vì xã hội Hì Lạp phát triển sớm, cớ nền văn minh rực rỡ nên thần thoại Hi Lạp còn thể hiện một trình độ tư duy cao, cả về nội dung nhân văn, ý nghĩa triết lí cùng như về hình thức kết cấu, nghệ thuật biểu hiện. 21 I- CÁC LOẠI THẦN THOẠI HI LẠP Thần thoại Hi Lạp có thể chia ra làm 8 loại : — Thần thoại về các gia hệ thần — Thần thoại về các thành bang - Thần thoại về các anh hùng. Sự sắp xếp thứ tự như trên có lí do của nơ. Thần thoại về các gia hệ thần với nội dung hiện thực mà nó phản ánh phải ra đời trên cơ sở của xã hội cộng déng thị tộc trong thời kì ban sơ, khi mà tổ chức đê thị, thành bang chưa được thực hiện.
Và cúng chỉ khi những tổ chức này tốn tại, việc giải thích nguồn gốc của nớ, việc giáo dục lòng yêu quê hương thành bang và xác định nhiệm vụ của người công dân đối với thành bang đất nước mới là nhu cầu để xuất hiện loại thần thoại về các anh hùng. Các loại thần thoại này cùng có chung một số điểm co ban như đều thấm nhuẩn thế giới quan thần linh chủ nghĩa, đều thông qua thế giới quan này mà phản ánh hiện thực cuộc sống, tư tưởng và tình cảm của người Hi Lạp cổ đại. Nhưng mỗi loại có những đặc điểm riêng, được sáng tác với những mục đích riêng và có tác dụng khác nhau đối với con người và cuộc sống. Thần thoại về các gia hệ thần bao gồm sự tích về các gia đình và thế hệ thần linh được sáng tác nhằm mục đích giải thích thế giới khách quan.
Thần thoại về các thành bang là một bước phát triển ở mức độ cao hơn của tư duy người Hi Lạp cố đại trên cơ sở sự phát triển của cuộc sống xã hội. Dø là sự ra đời của các tổ chức thành bang. Cơ cấu tổ chức xã hội này khác với đời sống của xã hội thị tộc nên có sự thay đổi trong cách nhìn, cách nghỉ, vì vậy có yêu cầu mới đối với hình thái văn nghệ thần thoại. Thần thoại về các thành bang ra đời xuất phát từ yêu cầu dựng nước và giữ nước cho nên mang một nội dung mới : sự tích các thành bang.
No gidi thích nguốn gốc, phản ánh phong tục tập quán của các thành bang, đồng thời ca ngợi những người anh bùng ưu tú đã toàn tâm toàn ý phục vụ lợi ích của thành bang. Qua đó người ta dễ đàng nhận thấy đối tượng phục vụ và đối tượng giáo dục của nó là người công dân đô thị. Họ cẩn am hiểu và tự hào về cội nguồn của xứ sở quê hương minh và cần phải ý thức được trách nhiệm thiêng liêng là phục vụ thành bang quê hương, Thần thoại về các anh hùng lại mang một sắc thái khác. Nó có mối quan hệ khá chát chẽ với hai loại trên.
Các vị thần thường bảo trợ các anh hùng ; hoặc có khi người anh hùng vì một lÍ do nào đó cũng bị thần 22 linh ham hai và ghét bỏ. Ngược lại, người anh hùng có khi giao du cả với thần thánh (Tangtan lên Ôlempø chơi với các thần, đãi tiệc các thần), cố khi được trở thành vị thần bất tử (Heraklex), có khi tham gia vào những sự cố mang tính chất quyết định đối với vận mệnh của cả một gia hệ thần hay vận mệnh riêng của một vị thần nào đơ (Hêraklex được chư thần mời tham gia cuộc chiến đấu chống những người khổng lồ 6Ò đầu, 100 tay). Cho nên có khi chuyện về một anh hùng lại liên quan đến các gia hệ thần, gìa đình thần (Héraklex, Asin, Phaéténg.