CHUONG VIII LY LUAN NHAN THUC I- BAN CHAT CUA NHAN THUC Nhận thức là gì? Con người có thể nhận thức được thế giới hay không? Các quan điểm triết học khác nhau có những câu trả lời khác nhau đối với những vấn đề trên. Các nhà triết học duy tâm không thừa nhận thế giới vật chất tổn tại độc lập đối với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan. Đối với nhiều nha duy ¿âm chủ quan, tất cả mọi cái đang tổn tại đều là phức hợp những cảm giác của con người. Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức các cảm giác, biểu tượng của con người.
Nhiều nhà đưy tâm khách guơn, mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giổi, song coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận thức của ý niệm, tư tưởng tổn tại ở đâu đó ngoài con người. , “Những người theo thuyết hoài nghỉ nghỉ ngồ tính xác thực của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên tắc nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của 342 bản thân thế giới bên ngoài. Còn những người theo ¿huyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới. Đối với họ, thế giới là không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con người không thể biết được gì nữa.
Quan điểm của thuyết hoài nghỉ và thuyết không thể biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người. Khác với những quan điểm trên đây, chủ nghĩa duy vật thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người. Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trực quan nên chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa học những vấn đề của lý luận nhận thức. Chủ nghĩa duy vật trước C.Mác chưa thấy đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức được thực hiện với sự ra đời của chủ nghĩa duy uật biện chúng.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu về khoa học, kỹ thuật và thực tiễn xã hội để xây dựng nên lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây: Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc lập đối với cảm giác, tư duy và ý thức của con người. Hai là, thừa nhận năng lực nhận thúc thế giới của con | người. Về nguyên tắc không có cái gì là không thể biết.
Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng nào mà 343 con người không thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết, nhưng trong tương lai với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được. Với khẳng định trên đây, lý luận nhận thức mácxít khẳng định sức mạnh của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan. Nhờ có nhận thức, con người mới có ý thức về thế giới; ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới.
Thế giới vật chất tôn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức của con người, tác, động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức. Con người (cá nhân, nhóm người, giai cấp, dân tộc hoặc cả nhân loại) là ch¿ ¿hể tích cực, sáng tạo của nhận thức. Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức. đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức.
Còn khdch thé nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bất, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức. Do vậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thức được mở rộng đến đâu là tùy theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học. Như vậy không chỉ chủ thể nhậa thức mà cả khách thể nhận thức cũng mang tính lịch sử - xã hội. Ba là, nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và thụ động mà là một quá trình 344 biện chứng, tích cực, sáng tạo.
Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn. Vì vậy: “Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất. di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành day đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”!.
Nghĩa là, chủ nghĩa duy vật biện chứng áp dụng phép biện chứng vào lý luận phan ánh, lý luận nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng có sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgích biện chứng. Khác với lôgích hình thức là bộ môn khoa học nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy như sự phan ánh sự vật, hiện tượng ở trạng thái ổn định tương đối, lôgích biện chứng nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy như sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển của chúng. Do lôgích biện chứng không thể không dựa trên những quy luật và phạm trù của phép biện chứng và lý luận nhận thức mácxít.LLênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, phép biện chứng cũng chính là lý luận nhận thức, là lôgích biện chứng của chủ nghĩa Mác.
Lênin: Toàn tép, Sdd, 1980, t. 345 Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn. Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức. Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử- xã hội.
II- THỰC TIỀN VÀ NHẬN THỨC 1. Phạm trù thực tiễn Phạmtrù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác- Lênin nói chung. Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan.
Mác đã chỉ rõ rằng, khuyết điểm chủ yếu, từ trước đến nay, của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbác) là không thấy được vai trò của thực tiễn), Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn niâư là hoạt động tỉnh thần, chứ ⁄ 1.Ăngghen: Toàn tập, Sđở, 1995, t. 346 không hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người. Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sốt trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước C.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tổn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.
Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”!, Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là những hoạt động uật chất có mục đích mơng tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên uà xã hội. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghỉ một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn.
Con người phải tiến hành lao động sản 1.I: Lên: Toàn tập, Sđở, 1980, t. 347 xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên.
Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tôn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tôn tai cơ bản của con người và xã hội, là phương thúc đầu tiên va chi yếu của mối quan hệ giữa con người uà thế giới. Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con người. Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bởn uà phổ biến của xã hội loài người.
Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội. Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó; trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chỉnh phục giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người.