mở đầu về máy tính, cách dùng Windows XP. Chương 2: hệ soạn thảo văn bản Word 2003. Chương 3: tính toán trên Excel 2003. Sau mỗi phần lý thuyết của các chương đều rất nhiều bài tập thực hành để học sinh tự làm trong giờ thực hành ở phòng máy, cuối sách cho lời giải các bài tập của chương Excel, cuốn sách rất tiện lợi dùng để dạy và học mon Tin học cho người mới bát đầu.
Cuốn sách này có thể lấy làm giáo trình môn 7n học văn phòng, Tìn học cơ so A, Tin hoc can ban hay Tin hoc dai cuong cho sinh viên, học sinh các Trường đại học, Trường cao dang, các Trường dạy nghề, các Trường phổ thông va các Trung tâm tin học. Thời gian: học giáo trình này khoảng 15 buổi, tốt nhất là học tại phòng may, mỗi người một máy. Đối tượng phục vụ của cuốn sách là các bạn sinh viên đại học, giáo viên phổ thông, học sinh phổ thông, các nhân viên văn phòng và tất cả các bạn bắt đầu làm quen với tin học và máy tính, và cũng là tài liệu tham khảo cho những người giảng dạy môn này. Cuốn sách do chính các tác giả soạn thảo trên Word 2003.
Mặc dù đã hết sức cố gắng đê cuốn sách được hoàn chỉnh, song chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của độc giả. Ý kiến đóng góp xin gửi về cho tác giả theo dia chi E-mail : bttam@math. Tac gia Bui Thé Tam | Cuốn sách "Giáo trình Tin học văn phòng” do tác giả giữ bản quyền. Nghiêm cấm việc làm giả, làm nhái, photocopy toàn bộ cuốn sách này.
Việc sao chép y nguyên các phần của cuốn sách này để biên soạn cuốn sách khác, giáo trình khác phải được sự đồng ý của tác giả. 2 Chương WINDOWS XP Windows XP là hệ điều hành dùng để khởi động máy tính, điều khiển phần cứng của máy tính, làm nền cho các chương trình ứng dụng khác chạy, quản lý các tệp và thư mục trên các ổ đĩa, kết nối và trao đổi thông tin giữa các máy tính. Windows XP có độ tin cậy cao, tránh lỗi do người sử dụng, dễ học và dễ sử dụng, hỗ trợ rộng rãi các chuẩn Internet, có nhiều phông chữ đẹp dùng mã Unicode. Để chạy Windows XP CPU của máy tính cần có tốc độ từ 1.7 Ghz trở lên, bộ nhớ RAM tối thiểu 128 MB, đĩa cứng từ 40 GB trở lên.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MÁY TÍNH 1. Máy tính Máy tính là thiết bị dùng để lưu trữ và xử lý thông tin một cách tự động theo một chương trình định trước. Máy tính có khả năng lưu trữ một khối lượng thông tin rất lớn trên một diện tích nhỏ, tốc độ xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác. Máy tính được lắp ráp từ vài mạch tích hợp (IC) cỡ cực lớn bao gồm bộ vi xử lý, bộ nhớ và các mạch giao tiếp vào ra gọi là máy vỉ tính.
Máy vi tính đầu tiên là XT ra đời vào đầu những năm 80. Mang may tinh \a một hệ thống liên kết nhiều máy tính lại với nhau. Trong số đó có một máy tính chính gọi là máy chủ (Server), các máy khác gọi máy khách (CHient). Máy chủ cung cấp cho máy khách các chương trình, bộ nhớ, dịch vụ gửi thư điện tử, in ấn và giúp người dùng trao đổi thông tin với nhau được dễ dàng.
Các máy tính có thể kết nối với máy chủ bằng cáp, đường điện thoại. Mạng cục bộ (LAN : local area network) là mạng máy tính trong một vùng địa lý nhỏ, ví dụ như trong một toà nhà, một cơ quan. Mạng điện rộng (WAN : wide area network) là một mạng máy tính phân bố trong một vùng rộng như một thành phố. Mạng Internet là một mạng máy tính toàn cầu, các máy tính kết nối với nhau thông qua tập chuẩn chung các giao thức gọi là TCP/IP (Transmission Control Protocol / Iternet Protocol), không có máy tính nào làm chủ và diéu khién tat ca.
Mang Intranet là một mạng cục bộ nhưng dùng giao thức TCP/IP để kết nối các máy tính trong mạng. Cách lưu trữ thông tin trên máy tinh Trong máy tính thường dùng các hệ cơ số 2, 10 và l6. Hệ cơ số 10 dùng 10 ký tự để biểu diễn các số: 0 1 2 3 45 678 9 Hệ cơ số 16 dùng 16 ký tự để biểu diễn các số:0 1 2 3456789 ABCDEE. Khi đó ta đếm như sau: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A, B, €, D, E, F, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 1A, 1B, 1C, 1D, IE, IF, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 2A, 2B, 2C, 2D, 2E, 2F, 30, 31,.
Hệ cơ số 2 chỉ dùng hai ky tu 0 va 1 dé biểu diễn các số. Khi đó ta đếm như sau: 0, 1, 10, 11, 100, 101, 110, 111, 1000, 1001, 1010, 1011, 1100, 1101, 1110, 1111,. Trong các thiết bị máy, các chữ số 0 và 1 được thể hiện nhờ những bộ phận cấu tạo điện hoặc điện tử với hai trạng thái khác nhau: không có hoặc có dòng điện chạy qua, điện thế cao hoặc điện thế thấp, không nhiễm từ hay có nhiễm từ. Mỗi vị trí lưu trữ một số nhị phân 0 hoặc 1 được tính là 1 bít (Binary Digit), 8 bít lập thành 1 byte, 3 1024 byte gọi là 1 KB (kilobyte), 1024 KB goi 1&4 1 MB (megabyte, bang 1.576 byte), 1024 MB goi la 1 GB (gigabyte, bang 1.
Để trao đổi thông tin trên máy vi tính, người ta dùng bộ mã chuẩn ASCI (American Standard Code for Information Interchange). Mỗi ký tự được mã hoá bằng 1 byte, và do 11111111 hệ 2 = FF hệ 16 = 255 hệ 10 nên bảng mã ký tự có thể mã hoá tối đa đến 256 ký tự. | Do nhu cầu trao đổi thông tin, từ năm 2000 bộ mã Unicode (dùng 2 byte để mã hoá các ký tự) được dùng rất phổ biến trên thế giới, nó cũng được cài trong Windows XP. Do dùng 2 byte để mã hoá nên có thể mã tối đa tới 65536 ký tự.
Ví dụ chữ [đ] của tiếng Việt có mã 0111 (hệ 16), chữ [ấ] có mã IEA5. Phần cứng của máy tính Sự hoạt động của máy tính là sự kết hợp của phần cứng và phần mềm. Phần cứng là tập hợp các linh kiện vật lý và cách bố trí, kết nối chúng để tạo nên một hệ thống máy tính. Phần mềm là các chương trình máy tính được xây dựng để can thiệp vào phần cứng nhằm đáp ứng một công việc cụ thể nào đó.
Phần mềm là trung gian giữa con người và phần cứng, nó thường được lưu trữ trên đĩa từ. Don vị xử lý trung tám (CPU, Center Processing Unit) là bộ phận quan trọng nhất của máy tính, thực hiện các lệnh của các chương trình bên trong bộ nhớ trong, điều khiển và phối hợp tất cả các bộ phận của máy tính. CPU quyết định các thông số quan trọng của máy tính như tốc độ xử lý, dung lượng tối đa bộ nhớ chính. CPU có hai bộ phận chính: khối tính toán số học và logic (ALU), khối điều khiển (CU).
Màn hình dùng để hiện văn bản và hình ảnh, giúp cho người giao tiếp với máy tính được dễ dàng. Màn hình thông dụng hiện nay là màn hình màu Super VGA. Nó có hai chế độ làm việc: chế độ văn bản và chế độ đồ hoa. Bàn phím dùng để đưa dữ liệu vào máy tính.
Trên bàn phím có các phím chữ cái, chữ số và các ký tự đặc biệt. Một số phím quan trọng: — Shift: thay đổi kiểu chữ in hay thường, chọn ký tự ở phía trên của phím có hai kýtự. Nhấn phím Caps Lock (đèn sáng) để thiết lập chế độ nhập chữ hoa (A, B,. Muốn thiết lập chế độ nhập chữ thường (a, b,.) hãy nhấn lại phím này (đèn tắt).
— Home: đưa con trỏ (điểm sáng nhấp nháy trên màn hình) về đâu dòng. — End: dua con trỏ về cuối dòng. — Page Down: hiện tiếp trang sau của màn hình. — Page Up: trở về trang trước của màn hình.
-Tloe: dịch chuyển con trỏ lên trên một dòng, xuống dưới một dòng, sang phải một ký tự, sang trái một ký tự. — Enter: con trỗ xuống dòng. — Spacebar (thanh ngang phía dưới): biểu diễn ký tự trắng. — Backspace (<) : lùi và xoá ký tự bên trái con trỏ.
— Insert: đối chế độ viết chèn (Insert) thành viết đè (Overwrite) và ngược lại. — Num Lock: bat/tat dtn Num Lock. Khi dén sang thi khu vực phím tận cùng bên 4 tay phả: sẽ cho ra các số. — Print Screen: in nội dung của màn hình lên giấy.
Chuột dùng để thực hiện các lệnh trong Windows một cách dễ dàng, nhanh chóng, chính xác. Chuột thường có hai nút: nút trái và nút phải. May in ding dé in các thông tin ra giấy. Chữ hay hình ảnh in ra từ các chấm điểm, do đó nếu mật độ điểm in càng cao thì chất lượng in càng tốt.
Có nhiều loại máy in: may in laser, may in kim, máy vẽ. Bo nhớ trong có hai phần: ROM và RAM. Bộ nhớ ROM (read only) chứa các chương trình cơ bản điều khiển việc nhập xuất do nhà sản xuất cài sẵn, đây là bộ nhớ chỉ đọc được. Bộ nhớ RAM (random access) để lưu trữ chương trình và dữ liệu của người dùng, khi mất điện thông tin trong RAM sẽ bị mất.
Bộ nhớ ngoài gồm có: đĩa mềm, đĩa cứng, thanh nhớ USB, đĩa CD. Mỗi loại đĩa cần có ổ đĩa tương ứng để đọc / ghi dữ liệu, ổ A dùng để đọc đĩa mềm, 6 C ding dé đọc đĩa cứng. Máy tính dùng các chữ cái từ A đến Z để đặt tên cho các ổ đĩa. Phân mềm máy tính Phần mềm là các chương trình được viết ra để can thiệp vào máy tính, bắt máy tính thực hiện một công việc nào đó mà con người yêu cầu.
Có thể chia phần mềm thành ba loại: - Phần mềm hệ thống là những chương trình dùng để khởi động hệ máy tính và tạo môi trường để con người sử dụng hệ máy tính tiện lợi và có hiệu quả. Phân mềm hệ thống quan trọng nhất là hệ điều hành, ví dụ MS-DOS, Windows 98, Windows 2000, Windows XP, UNIX, LINUX, OS/2. - Ngôn ngữ lập trình là toàn bộ các ký tự, từ khoá, cú pháp mà người lập trình dùng để lập các chương trình, nó là công cụ để xây dựng và phát triển phần mềm.