Chương 1: Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu 3.2 Hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard tổ hợp Hình 31. Mạch điện hệ thống đèn xinhan có công tắc hazard tổ hợp 3.3 Hệ thống đèn xinhan điều khiển bằng bộ tích hợp 3. Nguyên lý hoạt động của đèn xinhan Khi công tắc đèn xinhan hoạt động, các công tắc đèn bộ nháy đèn xinhan bật đèn xinhan bên trái và bên phải làm cho đèn xinhan ở phía đó nhấp nháy. Để báo cho người lái biết hệ thống đèn xinhan đang hoạt động một âm thanh được phát ra bởi hệ thống này.
Mạch điện hệ thống đèn xinhan điều khiển bằng bộ tích hợp - Rẽ sang trái Khi công tắc đèn xinhan được dịch chuyển về bên trái, thì cực EL của bộ nháy đèn xinhan và đất được nối thông. Dòng điện đi tới cực LL và đèn xinhan bên trái nhấp nháy. - Rẽ sang phải Khi công tắc đèn xinhan dịch chuyển về bên phải thì cực ER của bộ nháy đèn xinhan được tiếp mát. Dòng điện đi tới cực LR và đèn xinhan bên phải nhấp nháy.
Nếu một bóng đèn xinhan bị cháy, thì cường độ dòng điện giảm xuống, thì tần số nhấp nháy tăng lên để thông báo cho người lái biết. Nguyên lý hoạt động của đèn báo nguy hiểm Khi công tắc đèn báo nguy hiểm được bật ON, thì cực EHW của đèn xinhan được tiếp mát. Dòng điện đi tới cả hai cực LL và LR và tất cả các đèn xinhan (báo rẽ) đều nhấp nháy. Hệ thống nhắc nhở và cảnh báo 4.1 Hệ thống cảnh báo đèn phía sau Chương 1: Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu 19 1.
Hở mạch các đèn phanh và đèn phanh lắp trên cao Hình 32. Hoạt động của mạch báo hỏng đèn phanh Khi các đèn phanh và đèn phanh lắp trên cao đang làm việc bình thường, thì điện áp ở ngõ vào (+) của bộ so sánh 1 và 2 nhỏ hơn ngõ vào (-). Do đó, đầu ra của các bộ so sánh 1 và 2 bằng “0”. Vì lý do này, đầu ra của cổng OR1 bằng "0",Transistor ở trạng thái ngắt và đèn cảnh báo đèn phía sau không sáng.
Khi chỉ cần một mạch đèn bị hở, điện áp ở ngõ vào (+) của bộ so sánh tăng lên và lớn hơn điện áp chuẩn ngõ vào (-). Do vậy các bộ so sánh 1 hoặc 2 sẽ cho ra “1” làm cổng OR1 đưa ra “1” tới mạch trễ/giữ cân bằng. Mạch trễ/giữ cân bằng bật Transistor Tr ON sau khoảng 0,3 tới 0,5 giây, làm bật sáng đèn cảnh báo đèn phía sau trên đồng hồ táp lô. Mạch giữ cân bằng hoạt động cho đến khi công tắc máy ngắt làm đèn cảnh báo tiếp tục sáng sáng.
Hở mạch đèn hậu Giống như mạch của đèn phanh, khi mạch đèn hậu bị hở, điện áp ngõ vào (+) của bộ so sánh 3 lớn hơn điện áp chuẩn ở ngõ vào (-) làm tín hiệu đầu ra của nó bắng "1", đầu ra của cổng OR2 cũng đưa ra mức "1" theo. Tín hiệu được truyền từ OR2 tới mạch trễ/giữ cân bằng tới Tr làm đèn cảnh báo đèn phía sau bật sáng.2 Hệ thống chuông nhắc nhở đèn - hệ thống tắt đèn tự động 1. Hoạt động của hệ thống chuông nhắc nhở đèn Hình 33. Hệ thống nhắc nhở đèn Hệ thống này có chức năng báo cho người lái xe biết là đèn đang bật trong khi người lái xe đã ra khỏi 20 Chương 1: Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu xe và đóng cửa lại.
Nếu: - Công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD - Khoá điện ở vị trí ACC hoặc LOCK. - Cửa xe phía người lái mở thì dòng điện sẽ không qua cực A của bảng đồng hồ táp lô. Khi công tắc cửa phía người lái được bật về vị trí ON (tương ứng với cửa người lái đóng), thì cực B được nối thông với mát. Khi điều này xảy ra, ECU trong bảng đồng hồ táp lô sẽ bật Transistor Tr lên.
Dòng điện chạy giữa các cực C và D của bảng đồng hồ táp lô và chuông phát ra tiếng kêu. Sau khi hệ thống chuông nhắc nhở đèn được kích hoạt, hệ thống có thể được ngắt và chuông ngừng kêu bằng cách tắt công tắc điều khiển đèn về vị trí OFF hoặc khoá điện ở vị trí ON. Ở một số kiểu xe có trang bị hệ thống nhắc nhở chìa khoá, vì chức năng hệ thống này cần được ưu tiên nên khi cửa xe phía người lái mở với chìa khoá được tra vào trong ổ khoá điện và chuông nhắc nhở chìa khoá sẽ phát ra tiếng kêu. Nguyên lý hoạt động của hệ thống tắt đèn tự động Hệ thống này hoạt động nhằm tắt các đèn chiếu sáng (đèn đầu và đèn hậu) khi người lái đã ra khỏi xe mà không tắt đèn.
Khi đèn đầu và đèn hậu bật sáng (khoá điện ở vị trí ON, công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD), nếu khoá điện được bật lên vị trí ACC hoặc LOCK và cửa xe phía người lái mở, thì dòng điện không qua cực A của relay tổ hợp. Khi công tắc cửa lái xe bật lên (khi người lái đóng cửa) làm cực B được nối thông với mát. Khi điều này xảy ra, IC trong relay tổ hợp sẽ ngắt các Transistor Tr1 và Tr2. Dòng điện không đi qua giữa các cực C và D, E và F và đèn hậu và đèn đầu tự động tắt.
Sau khi kích hoạt hệ thống tắt đèn tự động, có thể hủy trạng thái này để đèn đầu cũng như đèn hậu sẽ được bật sáng trở lại bằng cách bật khoá điện lên vị trí ON và công tắc điều khiển đèn ở vị trí TAIL hoặc HEAD. Hệ thống tắt đèn tự động 4.3 Hệ thống chiếu sáng khi lên xe Hệ thống này hoạt động nhằm bật sáng các đèn khu vực người lái giúp người lái thuận tiện trong việc vào xe và tra chìa khóa vào ổ khóa điện. Nếu: - Khi không có chìa khoá trong ổ khoá điện. - Khi tất cả các cửa xe đã đóng sau đó có một trong các cửa xe đã mở.
thì tín hiệu ngắt cảnh báo mở khoá bằng chìa được đưa vào cực A. Tín hiệu đóng ngắt cửa xe tới cực B Chương 1: Hệ thống chiếu sáng và tín hiệu 21 được đưa vào IC trong relay tổng hợp. Theo các tín hiệu này IC kích hoạt chức năng đếm thời gian. Transistor Tr nối cực C xuống mát khoảng 15 giây, do đó làm sáng các đèn trong xe và đèn chiếu sáng chìa khoá điện.
Khi hệ thống hoạt động bình thường đèn sẽ tiếp tục sáng khoảng 15 giây. Tuy nhiên, khi bộ đếm thời gian đang hoạt động mà khoá điện được bật lên vị trí ON hoặc tất cả các cửa được đóng lại thì các đèn sẽ tắt ngay lập tức. Ở một số xe có hệ thống làm các đèn tắt từ từ. Thời gian các đèn sáng và các chi tiết khác tuỳ theo từng kiểu xe.
Hệ thống chiếu sáng khi lên xe 22 Chương 2: Hệ thống thông tin trên ô tô Chương 2 HỆ THỐNG THÔNG TIN TRÊN ÔTÔ 1. TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN TRÊN ÔTÔ Hệ thống thông tin trên xe bao gồm các bảng đồng hồ (tableau), màn hình và các đèn báo giúp tài xế và người sửa chữa biết được thông tin về tình trạng hoạt động của các hệ thống chính trong xe. Thông tin có thể truyền đến tài xế qua 2 dạng : tương tự (tableau kim) và số (tableau hiện số). Ñoàng hoà Ñeøn Ñeøn baùo toác ñoä baùo reõ Caùc ñeøn baùo hieäu vaø Ñoàng hoà hieäu vaø ñeøn ñoäng cô ñeøn caûnh toác ñoä xe caûnh baùo baùo Ñoàng hoà aùp Voân keá suaát daàu Ñoàng hoà nhieät Ñoàng hoà ñoä nöôùc laøm Ñeøn baùo nhieân lieäu maùt cheá ñoä pha A- Báo áp lực nhớt C- Báo nhiệt độ nhớt E: Các đèn báo G- Tốc độ động cơ B- Báo điện áp D- Báo mực xăng F- Tốc độ xe H- Hành trình Hình 1.
Bảng tableau trên ô tô. Hệ thống thông tin bao gồm các đồng hồ sau: a. Đồng hồ tốc độ xe (speedometer): Bao gồm đồng hồ tốc độ xe thường kết hợp với đồng hồ đo quãng đường (odometer) để báo quãng đường xe đã đi từ lúc xe bắt đầu hoạt động và đồng hồ hành trình (tripmeter) để đo các khoảng cách ngắn. Đồng hồ tốc độ động cơ (tachometer) Hiển thị tốc độ động cơ (tốc độ trục khuỷu) theo v/p (vòng/phút) hay rpm.
Vôn kế Chỉ thị điện áp accu hay điện áp ra của máy phát. Loại này hiện nay không còn trên tableau nữa. Đồng hồ áp lực nhớt Chỉ thị áp lực nhớt của động cơ. Đồng hồ nhiệt độ nước làm mát Chương 2: Hệ thống thông tin trên ô tô 23 Chỉ thị nhiệt độ nước làm mát động cơ.
Đồng hồ báo nhiên liệu Chỉ thị mức nhiên liệu có trong thùng chứa. Các loại đèn báo trên tableau g. Đèn báo áp suất nhớt thấp. Chỉ thị áp suất nhớt động cơ thấp dưới mức bình thường.
Đèn báo nạp Báo hệ thống nạp hoạt động không bình thường (máy phát hư). Đèn báo pha Báo đèn đầu đang ở chế độ chiếu xa. Đèn báo rẽ Báo rẽ phải hay trái. Đèn báo nguy hoặc ưu tiên.
Đèn này được bật khi muốn báo nguy hoặc xin ưu tiên. Lúc này cả hai bên đèn rẽ phải và trái sẽ chớp. Đèn báo mức nhiên liệu thấp. Báo nhiên liệu trong thùng nhiên liệu sắp hết.
Đèn báo hệ thống phanh. Báo đang kéo phanh tay, dầu phanh không đủ hay bố phanh quá mòn. Đèn báo cửa mở. Báo có cửa chưa được đóng chặt.
THÔNG TIN DẠNG TƢƠNG TỰ (ANALOG) Hệ thống thông tin dạng tương tự bao gồm các đồng hồ dạng kim và các đèn báo để kiểm tra và theo dõi hoạt động của một số bộ phận quan trọng của động cơ cũng như toàn xe. 24 Chương 2: Hệ thống thông tin trên ô tô + Hình 3: Sơ đồ mạch của một tableau loại tương tự Trong hệ thống thông tin loại này thường có các đồng hồ dưới đây : Chương 2: Hệ thống thông tin trên ô tô 25 2.1 Đồng hồ và cảm biến báo áp suất nhớt: Đồng hồ áp suất nhớt báo áp suất nhớt trong động cơ giúp phát hiện hư hỏng trong hệ thống bôi trơn. Đồng hồ áp suất nhớt thường là kiểu đồng hồ kiểu lưỡng kim. Đồng hồ loại này thường gồm hai phần: cảm biến áp lực nhớt, được lắp vào cac-te của động cơ hoặc lắp ở bộ lọc nhớt và đồng hồ (bộ phận chỉ thị) được bố trí ở bảng tableau trước mặt tài xế.
Đồng hồ và bộ cảm biến mắc nối tiếp với nhau và đấu vào mạch sau công tắc máy. Cảm biến làm nhiệm vụ biến đổi sự thay đổi của áp suất dầu nhờn thành tín hiệu điện để đưa về đồng hồ đo.