mở đầu: Tổng quan về công nghệ sửa chữa Mục tiêu - Trình bày được tổng quan về cộng sửa chữa tàu thủy Nội dung 2. CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ SỬA CHỮA VÀ BẢO DƯỠNG MÁY MÓC THIẾT BỊ Mục tiêu - Trình bày được kiến thức cơ bản về bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị Nội dung 1. Các dạng hư hỏng và nguyên nhân hư hỏng Các chi tiết khi sử dụng chuyển động tương đối với nhau như piston - xy lanh, trục - bạc,.Cả hai chi tiết, chi tiết chuyển động trượt trên chi tiết cố định, đều bị mài mòn tuân theo một qui luật giống nhau.Ta xét qui luật mài mòn của một chi tiết được chia thành các giai đoạn như (hình 5.3) Đồ thị có trục tung thể hiện khe hở (mm), trục hoành thể hiện thời gian hoặc số Km xe đã chạy; SLg khe hở do lắp ghép ban đầu; SBĐ khe hở ban đầu sau khi chạy rà; SMAX khe hở lớn nhất cho phép.3 Để dễ nhiên cứu ta chỉ vẽ đồ thị qui luật mài mòn của một chi tiết, thực tế khi lắp ghép hai chi tiết với nhau, khi chuyển động tương đối với nhau cả hai chi tiết sẽ bị mài mòn nên khe hở sẽ tăng lên bằng tổng mài mòn của hai chi tiết. Giai đoạn chạy rà Sau khi lắp ghép xong các chi tiết có khe hở gọi là khe hở lắp ghép.
Ban đầu sau khi gia công xong bề mặt các chi tiết vẫn còn độ nhám, soi kính hiểm vi bề mặt còn nhấp nhô, nên chưa đạt độ bóng theo yêu cầu. Để đạt độ bóng cần phải chạy rà để các chi tiết nhãn bóng. Trong đồ thị ứng với đoạn AB. Giai đoàn này tốc độ hao mòn lớn, nên đoạn AB dốc, thời gian chạy rà ngắn.
Sau khi chạy rà xong độ hở của chi tiết là SBĐ. Chú ý: Giai đoạn chạy rà không cho các chi tiết làm việc với tải trọng lớn.2 Giai đoạn mài mòn ổn định (Giai đoạn sử dụng) Giai đoạn này bề mặt các chi tiết đã được chạy rà nhãn bóng, độ hở đúng với qui định nên tốc độ mài mòn ở giai đoạn này nhỏ, thời gian sử dụng lâu, ứng với đoạn BC, độ dốc nhỏ, tức là khe hở tăng chậm. Đây là giai đoạn quan trọng nhất nói lên tuổi thọ của 12 chi tiết máy, nên ta cần tìm cách kéo dài giai đoạn này. Khi sử dụng nếu khe hở cặp chi tiết đã đạt đến SMAX là khe hở cho phép làm việc lớn nhất, khi đó cần phải điều chỉnh, sửa chữa.3 Giai đoạn mài phá Khi khe hở của cặp chi tiết đã đạt đến SMAX, nếu ta không điều chỉnh, sửa chữa mà vẫn tiếp tục sử dụng thì các chi tiết làm việc sinh ra va đập, gây ra tiếng gõ làm các chi mài mòn, hư hỏng rất nhanh, có thể bị nứt, vỡ, gẫy xảy ra nguy hiểm, nên khi sử dụng đạt đến khe hở SM cần phải điều chỉnh, sửa chữa.
Các dạng hư hỏng và nguyên nhân hư hỏng Mục tiêu - Nhận dạng được sai hỏng của các chi tiết điển hình 2.1 Chi tiết dạng trục - lỗ Các trục quay trên các lỗ có bạc có những sai hỏng giống nhau. Trục và bạc bị mài mòn, do thiếu dầu bôi trơn phần bạc nằm ở phía dưới sẽ mài mòn nhiều hơn, và lực tác động vào các vị trí của bạc không đều, nên trục và bạc cũng mòn không đều làm cho trục và bạc tao thành hình ôvan và côn. Trục và bạc có thể bị cào sước do trong dầu bôi trơn chữa các tạp chất cứng. Ngoài ra bạc còn bị hư hỏng do dính bóc, cháy xám do thiếu dầu bôi trơn.
Trục bị cong, gẫy do khe hở lớn, làm việc quá tải. Dạng trục - lỗ như piston và xy lanh cũng bị mài mòn tương tự. Ở xy lanh phần trên tiếp xúc với xéc măng 1 và 2 ở đầu kỳ nổ lực tác động lớn và vị trí trên bôi trơn kém hơn nên phần trên mòn nhiều hơn (hình 5. Mỗi bên thành xy lanh tiếp xúc với phần dẫn hướng của piston, Hình 5.3: Xy lanh mòn trong mặt phẳng dọc và mặt phẳng ngang chịu lực pháp tuyến nên mòn nhiều hơn, nên khi xy lanh mòn trên mặt phẳng cắt ngang sẽ tạo thành ô van, trên mặt phẳng dọc sẽ tạo thành hình côn.
Ngoài ra xy lanh còn hư hỏng do bị cào sước, cháy rỗ. Ở piston do piston khi làm việc chủ yếu phần dẫn hướng (váy piston) tiếp xúc với xy lanh nên piston cũng chủ yếu mòn, sước ở phần dẫn hướng.2 Chi tiết dạng thân hộp 2.1 Mặt máy: Khi sử dụng mặt máy có các hư hỏng sau: - Mặt máy bị cong vênh - Mặt máy bị rạn nứt - Mặt máy bị ăn mòn 2.2 Thân máy: - Thân máy bị cong, vênh mặt trên - Thân máy bị rạn nứt - Thân máy bị ăn mòn 13 - Hư hỏng các ren 2.3 Chi tiết dạng càng: - Chi tiết sử dụng dạng càng thường có các hư hỏng sau: + Chi tiết bị cong, vênh, xoắn + Chi tiết bị gẫy + Chi tiết bị mài mòn 2.4 Chi tiết dạng đĩa: - Chi tiết sử dụng dạng đĩa như: đĩa ma sát ly hợp, đĩa ép ly hợp, bánh đà, v.v thường có các hư hỏng sau: + Chi tiết bị cong vênh + Chi tiết bị mòn + Chi tiết bị sước + Chi tiết bị cháy, rỗ 2.5 Các chi tiết tiêu chuẩn: Việc nhận biết các chi tiết tiêu chuẩn thường dùng phương pháp kiểm tra đo kích thước sau đó so sánh với kích thước chuẩn ta biết được mức hư hỏng. Các chi tiết tiêu chuẩn khi bị hư hỏng sẽ làm cho cặp lắp ghép, ăn khớp, liên kết nhau không chuẩn, gây ảnh hưởng đến hoạt động của cụm chi tiết. Khi sai lệch quá mức qui định chi tiết làm việc bị giảm chất lượng nhiều và có thể bị phá hỏng, khi đó ta cần phải sửa chữa phục hồi lại kích thước.
Các chi tiết tiêu chuẩn khi hư hỏng ta thường sửa chữa bằng cách thay mới chi tiết đó, loại này có ưu điểm thay thế nhanh, chất lượng làm việc tốt. Ví dụ: thay thế các ổ bi, các bạc, piston, xy lanh theo cốt sửa chữa,. 14 Câu hỏi ôn tập: 1. Nêu khái niệm về suy giảm chất lượng động cơ tàu thủy? Nêu quá trình hình thành sai hỏng trong quá trình sử dụng? 2.
Trình bày hiện tượng và quy luật hao mòn của cặp chi tiết chuyển động tương đối với nhau? 3. Nêu các sai hỏng của các chi tiết dạng trục - lỗ, dạng thân hộp, chi tiết dạng càng, dạng đĩa và dạng tiêu chuẩn? 15 Chương 2: HAO MÒN VÀ HƯ HỎNG CỦA CHI TIẾT MÁY Mã bài 2: MĐ 20 - 02 Giới thiệu: Bài này giới thiệu các sai hỏng và mài mòn các chi tiết. Quy luật mài mòn cặp chi tiết chuyển động tương đối với nhau. Sự hình thành sai hỏng, hiện tượng hao mòn, quy luật hao mòn và sai hỏng các chi tiết điển hình.
Mục tiêu: - Phát biểu được khái niệm chung các dạng hao mòn và hư hỏng của chi tiết máy. - Lấy được ví dụ và phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng hao mòn, hư hỏng phù hợp với thực tế. - Rèn luyện đức tính cẩn thận, tỷ mỷ và phương pháp làm việc khoa học cho sinh viên. Phương pháp giảng dạy và học tập bài sai hỏng và mài mòn - Đối với người dạy: Sử dụng phương pháp giảng giảng dạy tích cực (diễn giảng, vấn đáp, dạy học theo vấn đề); yêu cầu người học nhớ đúng khái niệm, phân loại những loại sai hỏng và mài mòntrong động cơ đốt trong - Đối với người học: Chủ động đọc trước giáo trình trước buổi học Điều kiện thực hiện bài học - Phòng học chuyên môn hóa/nhà xưởng: Phòng học chuyên môn - Trang thiết bị máy móc: Máy chiếu và các thiết bị dạy học khác - Học liệu, dụng cụ, nguyên vật liệu: Chương trình môn học, giáo trình, tài liệu tham khảo, giáo án, phim ảnh, và các tài liệu liên quan.
- Các điều kiện khác: Không có Kiểm tra và đánh giá bài học - Nội dung: Kiến thức: Kiểm tra và đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kiến thức Kỹ năng: Đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kĩ năng. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Trong quá trình học tập, người học cần: + Nghiên cứu bài trước khi đến lớp + Chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập. + Tham gia đầy đủ thời lượng môn học. + Nghiêm túc trong quá trình học tập.
- Phương pháp: 16 Điểm kiểm tra thường xuyên: 1 điểm kiểm tra (hình thức: hỏi miệng) Kiểm tra định kỳ lý thuyết: không có Kiểm tra định kỳ thực hành: không có Nội dung chính: 2. Khái niệm về quá trình suy giảm chất lượng của ô tô và hình thành sai hỏng trong quá trình sử dụng Mục tiêu - Trình bày được khái niệm về suy giảm chất lượng tàu thủy, sự hình thành sai hỏng trong quá trình sử dụng 2.1 Khái niệm về quá trình suy giảm chất lượng của động cơ tàu thủy Trong quá trình sử dụng, trạng thái kỹ thuật của động cơ tàu thủy dần thay đổi theo hướng sấu đi, dẫn tới hay hỏng hóc và giảm độ tin cậy. Quá trình thay đổi ấy có thể kéo dài theo thời gian (hay hành trình sử dụng) và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân: - Chất lượng vật liệu, công nghệ chế tạo, lắp ghép, sự đồng nhất trong chế tạo,. - Điều kiện sử dụng: môi trường sử dụng, trình độ người sử dụng, điều kiện bảo quản, trang thiết bị và môi trường sửa chữa, nhiên liệu dầu mỡ bôi trơn,.
- Sự mài mòn vật liệu giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. - Sự xuất hiện các vết nứt nhỏ do vật liệu chịu tải thay đổi, thường gọi là mỏi. - Sự hư hỏng các phần kết cấu chi tiết do chịu quá tải tức thời, đột xuất. - Sự hư hỏng kết cấu và chi tiết do ăn mòn hoá học trong môi trường chi tiết làm việc.
- Sự lão hoá vật liệu trong môi trường kết cấu hoạt động, nhất là các vật liệu bằng chất dẻo, cao su, chất dính kết,. Các nguyên nhân trên có thể: nhận biết được (hữu hình) và không nhận biết (vô hình), và được đánh giá theo thời gian. Nếu xem xét chủ yếu theo hiệu quả công việc của ô tô thì có thể sử dụng chỉ tiêu đánh giá theo quãng đường xe chạy. Việc đánh giá theo quãng đường xe chạy không hoàn thiện bằng việc đánh giá theo thời gian sử dụng, nhưng lại tiện lợi hơn.