PHẦN THỨ HAI QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC Đường lối dân tộc của Đảng ta là thực hiện đại đoàn kết toàn đân, đánh đuổi để quốc phong kiến, giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và giải pháp nhằm phát triển Rinh tế- xã hội vùng đồng bào các dân tộc, khắc phục dần sự chênh lệch về các mặt, tiến kịp trình độ phát triển chung, tang cường đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau, cùng giúp nhau tiến bộ nhằm chung sức xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển, đi lên CNXH. Chương ð MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC I. KHA EM DAN TOC Hiện nay, trong đời sống xã hội khái niệm dân tộc được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ.
Khái niệm dân tộc được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, bởi dân tộc không chỉ là đối tượng nghiên cứu riêng của ngành dân tộc học. Trong phạm vì khác nhau, dân tộc và những vấn để dân tộc được các khoa học như: sử học, văn hóa học, triết học, TỔ nhân chủng học, địa lí học, tâm lí học, luật học, khoa học quản lí v. Bởi vậy, với tư cách là đối tượng của khoa học quản lí nhà nước, cần có một quan niệm chung về khái niệm dân tộc. Khái niệm "dân tộc" thông thường trong đời sống được dùng với hai nghĩa cơ bản sau: 1.
Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đâu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người. kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân. Trong khái niệm "Quốc gia - dân tộc" cũng cần phân biệt: - Quốc gia chỉ bao gồm một dân tộc (tộc người) như nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. - Quốc gia đa dân tộc (tộc người) gồm một dân tộc đa số và nhiều dân tộc thiểu số như hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay.
Dân tộc (Ethnie) đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana. Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (Nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Gần đây ở nước ta xuất hiện thuật ngữ "sắc tộc", do ngữ nghĩa và ý nghĩa của thuật ngữ, không nên sử dụng mà chỉ dùng một cụm từ "dân tộc" là đủ, hoặc thay cho cụm từ "dân tộc" là cụm từ "tộc người". 74 Khái niệm "dân tộc" vừa bao hàm nghĩa dân tộc - quốc gia, vừa chỉ đân tộc đa số và các dân tộc thiểu số trong một quốc gia.
"Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam" (Điều 5 - Hiến pháp 1999). Khái niệm "tộc người" bao gồm các cộng đồng người ở các thứ bậc từ thấp (còn đang ở trong phạm trù xã hội nguyên thuỷ) lên cao (đạt đến sự ra đời của nhà nước), thuộc các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, bởi vậy, trong quản lí nhà nước về dân tộc ở nước ta, dân tộc (Ethnie) được hiểu đồng nghĩa với tộc người. Ngày 4/12/2001 Hội đồng dân tộc của Quốc hội có công văn số 903 CV/HĐDT về việc đọc đúng tên và khái niệm về dân tộc; cụ thể là: - Các dân tộc hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam là chỉ tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam.
- Đồng bào dân tộc thiểu số hoặc các dân tộc thiểu số (viết tắt là DTTS) là chỉ đồng bào các dân tộc hoặc dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc Kinh (Việt). Không nên viết và nói tắt là "đồng bào dân tộc". - Người đân tộc thiểu số tức là chỉ người đó là người dân tộc thiểu số không nên viết và nói hoặc đọc là "người đân tộc, cán bộ dân tộc". QUAN HỆ DÂN TỘC Thực tế khái niệm dân tộc đã mang tính đa nghĩa, đa cấp độ thì quan hệ dân tộc cũng bao hàm những nội dung đa nghĩa.
Quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng - quốc gia (Nation) thì quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi đó, quan hệ dân tộc gắn với quan hệ quốc tế, với chính sách đối ngoại của một nhà nước một thể chế chính trị. Nó liên quan đến việc giải quy ết các quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới. Quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp Dân toc (Ethnic): quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các dân tộc - tộc người trong một quốc gia đa dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ một dân tộc - tộc người.
Nội dung của quan hệ dân tộc 3. Quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng Nội dung của quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng bao gồm các quan hệ cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá, lãnh thổ v. Lênin phát hiện hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc. Thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các cộng đồng dân tộc độc lập, trong đó họ có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Thứ hai, các dân tộc muốn phá đổ hàng rào ngăn cách để liên hiệp lại, trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện, phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của lực lượng sản 76 xuất mang tính xã hội, phù hợp nhu cầu mở rộng, giao lưu kinh tế, văn hóa. giữa các dân tộc. Sự vận động có tính mâu thuẫn, nhưng thống nhất giữa hai xu hướng đó, mỗi dân tộc tiến tới độc lập. tự chủ, phon vinh và các dan tộc khác không ngừng xích lại gần nhau - là quy luật phát triển khách quan của sự phát triển dân tộc và môi quan hệ giữa các dân tộc.
Ngày nay các dân tộc có quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm trong đó quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Xu hướng này hiện đang biểu hiện sức mạnh của nó trong phong trào giải phóng đân tộc chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách thực đân mới dưới mọi biểu hiện, công phá những khối liên hiệp giả hiệu mà thực chất là tấm bình phong để chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột các dân tộc lạc hậu. Xu hướng này cũng thể hiện sức mạnh trong cuộc đấu tranh chống sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xung đột dân tộc. Độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia là xu hướng khách quan, là chân lí thời đại, là sức mạnh hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc.
Nhưng trong thời đại ngày nay, cùng với xu hướng "Ìi tâm" nêu trên, lực "hướng tâm" đang tác động mạnh mẽ lôi kéo các dân tộc xích lại gần nhau. Chính lực đó là chất keo, hàn gắn lại vết thương chia cắt "nhân tạo" ở một số quốc gia, dân tộc, trả lại nó nguyên trạng thống nhất đã được hình thành trong lịch sử. Cũng chính lực đó, các dân tộc, quốc gia tham gia vào các liên minh được hình thành do sự thúc đẩy của các lợi ích. 77 Bước vào những năm 90 của thế kỷ XX, thực tế đã chứng minh, xu hướng tập đoàn hóa, quốc tế hóa ở các khu vực của thế giới tăng lên rõ rệt, không chỉ do tác động của lợi ích kinh tế (các dân tộc, quốc gia trong khu vực muốn dựa vào nhau để vượt qua những khó khăn trước mắt và để phát triển kinh tế với tốc độ nhanh) mà còn do sự thúc đẩy của các lợi ích chính trị (các dân tộc, quốc gia này muốn tìm ở khối liên minh khu vực một chỗ dựa mong đối phó với sức ép của các siêu cường).
Xét trong phạm vi từng quốc gia, đa dân tộc; hai xu hướng có hình thức vận động riêng của chúng. Sự phồn vinh của từng dân tộc tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc xích lại gần nhau. Bởi vì, nó tạo ra cơ sở kinh tế- xã hội vững chắc cho sự kết dính ở trình độ cao hơn giữa các dân tộc, nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiểm năng của dân tộc mình, mà còn dựa vào tiềm năng của các dân tộc anh em trong khối liên minh vững chắc để tiến lên. Phải làm sao cho sự hòa quyện đó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc, nó không san bằng những đặc thù dân tộc; ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tỉnh hoa, bản sắc của dân tộc 3.
Nội dung quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp Nội dung quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp được biểu hiện ở quan hệ giữa dân tộc - tộc người trong một quốc gia nhiều dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ một dân tộc - tộc người. Đảng ta đã khẳng định: "Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng 78 đồng dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thu n, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc"? Quan hệ tộc người trong một quốc gia nhiều dân tộc được thể hiện một cách tập trung trong những luận điểm sau: - Về tính thống nhất và da dạng của các tộc người trong một quốc gia. - Các đân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, xóa bỏ dần khoảng cách phát triển chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đây đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị và văn hóa.