Giáo trình Quản lý nhà nước về Dân tộc Phần 2 - TS. Hoàng Văn Chức

Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc phần 2 của TS Hoàng Văn Chức cung cấp kiến thức sâu sắc về chính sách và quản lý.

Chuyên ngành

Quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá 2 khái niệm cốt lõi về dân tộc trong quản lí nhà nước

Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc phần 2 của TS Hoàng Văn Chức đặt nền móng lý luận bằng việc làm rõ các khái niệm cơ bản. Việc hiểu đúng bản chất khái niệm "dân tộc" là yêu cầu tiên quyết để xây dựng và thực thi chính sách hiệu quả. Tài liệu chỉ ra rằng, trong đời sống xã hội, khái niệm này mang tính đa nghĩa, đa cấp độ và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như sử học, văn hóa học, triết học và luật học. Với tư cách là đối tượng của khoa học quản lí nhà nước, việc thống nhất quan niệm chung về dân tộc là vô cùng cần thiết. Tài liệu của TS Hoàng Văn Chức tập trung phân tích hai nghĩa cơ bản và phổ biến nhất của thuật ngữ này. Thứ nhất là dân tộc theo nghĩa quốc gia (Nation), chỉ một cộng đồng chính trị - xã hội ổn định, được hình thành trong lịch sử, gắn với một nhà nước và một lãnh thổ nhất định. Thứ hai là dân tộc theo nghĩa tộc người (Ethnie), chỉ một cộng đồng người có chung các đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Tại Việt Nam, khái niệm "dân tộc" được sử dụng để chỉ cả cộng đồng quốc gia Việt Nam và đồng thời chỉ 54 thành phần dân tộc cụ thể. Hiến pháp đã khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam". Do đó, trong công tác quản lí nhà nước về dân tộc, việc phân biệt và vận dụng linh hoạt các khái niệm này giúp tránh được sự nhầm lẫn, đảm bảo chính sách được ban hành phù hợp với từng đối tượng và bối cảnh cụ thể, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

1.1. Phân biệt khái niệm Dân tộc Nation và Tộc người Ethnie

Tài liệu gốc nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai cách hiểu về "dân tộc". Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội rộng lớn, được quản lí bởi một nhà nước chung trên một lãnh thổ xác định. Cộng đồng này có thể bao gồm một hoặc nhiều tộc người. Ví dụ, quốc gia đa dân tộc như Việt Nam bao gồm một dân tộc đa số là người Kinh và 53 dân tộc thiểu số khác. Ngược lại, Dân tộc (Ethnie), hay tộc người, là một khái niệm hẹp hơn. Nó chỉ một cộng đồng người được liên kết bởi các đặc điểm chung về ngôn ngữ, văn hóa, và ý thức tự giác về nguồn gốc chung của mình. Ví dụ như dân tộc Tày, dân tộc Ba Na. Trong công tác quản lí nhà nước về dân tộc ở Việt Nam, khái niệm "dân tộc" khi đề cập đến các thành phần cụ thể như Tày, Nùng, Mông, Dao... được hiểu đồng nghĩa với "tộc người".

1.2. Xu hướng khách quan trong quan hệ và phát triển dân tộc

V.I. Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của các dân tộc. Xu hướng thứ nhất là sự thức tỉnh của ý thức dân tộc, các cộng đồng muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Xu hướng này thể hiện mạnh mẽ trong các phong trào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc và kỳ thị chủng tộc. Xu hướng thứ hai là các dân tộc lại muốn liên hiệp lại với nhau, phá bỏ các rào cản ngăn cách để mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa. Hai xu hướng này tuy mâu thuẫn nhưng lại thống nhất, tạo nên quy luật phát triển của quan hệ dân tộc. Mỗi quốc gia vừa nỗ lực khẳng định độc lập, tự chủ, vừa tích cực tham gia vào các liên minh khu vực và quốc tế để cùng phát triển. Việc nắm bắt quy luật này giúp nhà nước xây dựng chính sách đối ngoại và chính sách dân tộc phù hợp, vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa thúc đẩy hội nhập.

II. 5 Đặc điểm chính của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam

Để thực hiện tốt công tác quản lí nhà nước về dân tộc, việc nắm vững đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là yếu tố then chốt. Giáo trình của TS Hoàng Văn Chức đã tổng kết những đặc điểm cơ bản, định hình nên bức tranh dân tộc đa dạng mà thống nhất của đất nước. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 thành phần. Dân tộc Kinh chiếm đa số (86,2%), 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số (13,8% theo số liệu 1999). Đặc điểm nổi bật nhất là truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Các dân tộc dù có bản sắc văn hóa riêng nhưng luôn hòa quyện, chung một vận mệnh lịch sử, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu ở miền núi, vùng cao, biên giới, là những khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Tuy nhiên, một thách thức lớn là sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, các dân tộc. Đây là hậu quả của lịch sử và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Việc nhận diện rõ những đặc điểm này là cơ sở để Đảng và Nhà nước đề ra các chính sách dân tộc phù hợp, nhằm từng bước khắc phục khó khăn, nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng bào.

2.1. Truyền thống đoàn kết và vị trí chiến lược an ninh quốc phòng

Đoàn kết là truyền thống quý báu và là sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, dân tộc ta đã vượt qua mọi kẻ thù xâm lược. Ngày nay, việc phát huy truyền thống này là nhiệm vụ trọng yếu. Đồng thời, địa bàn cư trú của hầu hết các dân tộc thiểu sốmiền núi, biên giới, hải đảo. Đây là những vùng "phên dậu" của Tổ quốc, giàu tài nguyên, khoáng sản và có tiềm năng kinh tế lớn. Vì vậy, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng về cả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái. Ổn định và phát triển khu vực này chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.

2.2. Sự phân bố dân cư không đều và tình trạng sống xen kẽ

Số lượng dân cư giữa các dân tộc có sự chênh lệch lớn. Có 12 dân tộc với dân số trên 10 vạn người, nhưng cũng có 5 dân tộc dân số dưới 1.000 người (Si La, Pu Péo, Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu). Một đặc điểm chung trong phân bố cư trú là tình trạng sống xen kẽ. Hầu hết các tỉnh, thành phố đều có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tăng cường hiểu biết và đoàn kết. Tuy nhiên, nó cũng có thể nảy sinh những va chạm về lợi ích, lối sống nếu không được giải quyết tốt, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, gây chia rẽ.

2.3. Chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội các vùng

Do hậu quả của chính sách thực dân phong kiến, cùng với điều kiện tự nhiên khó khăn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi còn tồn tại khoảng cách lớn. Nhiều nơi vẫn còn tình trạng sản xuất lạc hậu, đời sống vật chất và tinh thần gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn cao. Đây là thách thức lớn nhất trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Đảng và Nhà nước đã và đang triển khai nhiều chương trình, chính sách đồng bộ nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch này, như Hiến pháp 1992 đã khẳng định: "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số".

III. 5 Quan điểm chiến lược về công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước

Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc của TS Hoàng Văn Chức đã hệ thống hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, coi đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong lĩnh vực này. Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn giữ vị trí chiến lược, cơ bản và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Quan điểm nhất quán là thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Mọi âm mưu chia rẽ dân tộc đều phải bị kiên quyết đấu tranh. Một quan điểm trọng tâm là phải phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi. Sự tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo. Nhà nước cũng ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái. Cuối cùng, công tác dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc không phải là nhiệm vụ của riêng một cơ quan nào, mà là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Những quan điểm này tạo thành một hệ thống chặt chẽ, là cơ sở lý luận vững chắc cho công tác quản lí nhà nước về dân tộc trong thời kỳ mới.

3.1. Bình đẳng đoàn kết tương trợ là nguyên tắc cốt lõi

Đây là nguyên tắc bất biến và quan trọng nhất. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng về mọi mặt, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp. Mọi dân tộc đều có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy những truyền thống tốt đẹp. Trên cơ sở bình đẳng, các dân tộc đoàn kết, tôn trọng, tương trợ lẫn nhau cùng tiến bộ, cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Lời dạy đó vẫn là tư tưởng chỉ đạo cho chính sách đại đoàn kết dân tộc hiện nay.

3.2. Ưu tiên đầu tư phát triển toàn diện kinh tế xã hội miền núi

Để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước là phải ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi. Các chính sách tập trung vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm xá), chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng. Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí, bảo vệ sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là giải pháp căn cơ để củng cố lòng tin và tăng cường khối đoàn kết toàn dân.

3.3. Công tác dân tộc là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã khẳng định: "Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị". Quan điểm này đề cao trách nhiệm của tất cả các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng. Nó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trung ương và địa phương, giữa các ngành, các cấp để tạo ra sức mạnh tổng hợp, đảm bảo các chính sách được triển khai hiệu quả, đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng của đồng bào.

IV. Hướng dẫn chính sách kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số

Từ những quan điểm chiến lược, giáo trình của TS Hoàng Văn Chức đã đi sâu vào các chính sách dân tộc cụ thể. Đây là hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm tác động toàn diện lên đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng miền núi. Mục tiêu tổng quát là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm khai thác tiềm năng một cách hợp lý và bền vững. Các chính sách được xây dựng trên nhiều lĩnh vực. Về kinh tế, nhà nước tập trung vào phát triển nông, lâm nghiệp theo thế mạnh, xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông, điện và nước sinh hoạt. Về xã hội, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng việc bồi dưỡng cán bộ và trí thức là người dân tộc thiểu số. Hệ thống y tế được tăng cường đầu tư để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Về văn hóa, nhà nước khuyến khích kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đặc biệt, các chính sách luôn quan tâm đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng, những nơi còn nhiều khó khăn nhất. Việc thực thi hiệu quả các chính sách này là con đường ngắn nhất để đưa miền núi tiến kịp miền xuôi.

4.1. Chính sách phát triển kinh tế hàng hóa và cơ sở hạ tầng

Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, xóa bỏ tư duy tự cung tự cấp. Tập trung vào các sản phẩm thế mạnh của từng vùng như cây công nghiệp, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc. Song song đó, đầu tư có trọng điểm để xây dựng cơ sở hạ tầng. Ưu tiên hàng đầu là các trục giao thông huyết mạch, đường liên xã, liên thôn để mở rộng giao thương. Phát triển mạng lưới điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ, và các chương trình cung cấp nước sạch. Các chính sách về tín dụng ưu đãi, miễn giảm thuế, hỗ trợ giá cước vận chuyển cũng được triển khai để kích thích sản xuất và tiêu thụ hàng hóa cho bà con.

4.2. Chính sách phát triển giáo dục y tế và bảo tồn văn hóa

Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Nhà nước củng cố và mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, miễn giảm học phí, có chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học cho con em các dân tộc. Về y tế, mạng lưới y tế cơ sở được tăng cường, đảm bảo đủ thuốc men thiết yếu, phòng chống dịch bệnh hiệu quả. Các giá trị, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc được tôn trọng, bảo tồn và phát huy thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các lễ hội văn hóa. Việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong tuyên truyền được chú trọng để thông tin đến được với mọi người dân.

4.3. Chính sách về đất đai định canh định cư và cán bộ dân tộc

Chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài đã phát huy hiệu quả, giúp người dân gắn bó với nghề rừng. Các chương trình định canh, định cư được thực hiện nhằm ổn định đời sống và sản xuất cho bộ phận đồng bào còn du canh, du cư. Đặc biệt, công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số được xem là khâu đột phá. Nhà nước có chính sách ưu tiên trong việc quy hoạch, đào tạo và bố trí sử dụng cán bộ người địa phương, vì họ là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

V. Phương pháp quản lí nhà nước hiệu quả về dân tộc và miền núi

Nội dung cuối cùng của phần hai trong giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc tập trung vào các phương thức và nội dung quản lí cụ thể. Quản lí nhà nước về dân tộc thiểu số là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ quyền lực để điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nhiệm vụ chính bao gồm nghiên cứu, đề xuất chính sách; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện; quản lý và giám sát các nguồn vốn đầu tư; phối hợp quản lý đội ngũ cán bộ. Đối tượng quản lý rất rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị diễn ra trong đời sống và trên địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số. Để quản lý hiệu quả, nhà nước sử dụng nhiều phương pháp, trong đó quản lý bằng pháp luật được coi là công cụ cơ bản. Các văn bản pháp quy từ luật, nghị định đến các chính sách cụ thể tạo ra hành lang pháp lý thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc, đồng thời giữ vững kỷ cương xã hội, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.

5.1. Nhiệm vụ và đối tượng của quản lí nhà nước về dân tộc

Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc bao gồm: nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề dân tộc để đề xuất chính sách; hướng dẫn và kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện chính sách dân tộc; quản lý các nguồn vốn đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi; và tham mưu về chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đối tượng quản lý là toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế... gắn liền với đời sống của đồng bào. Quản lý vừa theo lĩnh vực, vừa theo vùng lãnh thổ để đảm bảo tính toàn diện và cụ thể.

5.2. Quản lí theo lĩnh vực kinh tế văn hóa xã hội an ninh

Trong thực tế, quản lí nhà nước về dân tộc được triển khai theo từng lĩnh vực cụ thể. Về kinh tế, nhà nước quản lý công tác định canh định cư, bảo vệ môi trường, tài nguyên rừng, phát triển giao thông, thương mại - dịch vụ. Về văn hóa - xã hội, nhà nước quản lý hệ thống giáo dục, y tế, thông tin truyền thông, thực hiện xóa đói giảm nghèo và bài trừ các hủ tục lạc hậu. Về an ninh chính trị, nhà nước tập trung giáo dục, nâng cao cảnh giác cho đồng bào trước âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

5.3. Sử dụng pháp luật làm công cụ quản lí cơ bản và hiệu quả

Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước cơ bản nhất. Việc ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Pháp lệnh, Nghị định về các vấn đề dân tộc nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng. Các văn bản này tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch để mọi tổ chức, cá nhân tuân theo. Nó vừa đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc, vừa là cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, gây phương hại đến khối đại đoàn kết dân tộc. Quản lý bằng pháp luật giúp đưa đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào nền nếp, ổn định, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững.

21/07/2025
Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc phần 2 ts hoàng văn chức

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN THỨ HAI QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC Đường lối dân tộc của Đảng ta là thực hiện đại đoàn kết toàn đân, đánh đuổi để quốc phong kiến, giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và giải pháp nhằm phát triển Rinh tế- xã hội vùng đồng bào các dân tộc, khắc phục dần sự chênh lệch về các mặt, tiến kịp trình độ phát triển chung, tang cường đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau, cùng giúp nhau tiến bộ nhằm chung sức xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển, đi lên CNXH. Chương ð MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC I. KHA EM DAN TOC Hiện nay, trong đời sống xã hội khái niệm dân tộc được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ.

Khái niệm dân tộc được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, bởi dân tộc không chỉ là đối tượng nghiên cứu riêng của ngành dân tộc học. Trong phạm vì khác nhau, dân tộc và những vấn để dân tộc được các khoa học như: sử học, văn hóa học, triết học, TỔ nhân chủng học, địa lí học, tâm lí học, luật học, khoa học quản lí v. Bởi vậy, với tư cách là đối tượng của khoa học quản lí nhà nước, cần có một quan niệm chung về khái niệm dân tộc. Khái niệm "dân tộc" thông thường trong đời sống được dùng với hai nghĩa cơ bản sau: 1.

Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đâu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người. kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và bản thân. Trong khái niệm "Quốc gia - dân tộc" cũng cần phân biệt: - Quốc gia chỉ bao gồm một dân tộc (tộc người) như nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. - Quốc gia đa dân tộc (tộc người) gồm một dân tộc đa số và nhiều dân tộc thiểu số như hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay.

Dân tộc (Ethnie) đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana. Cộng đồng có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (Nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Gần đây ở nước ta xuất hiện thuật ngữ "sắc tộc", do ngữ nghĩa và ý nghĩa của thuật ngữ, không nên sử dụng mà chỉ dùng một cụm từ "dân tộc" là đủ, hoặc thay cho cụm từ "dân tộc" là cụm từ "tộc người". 74 Khái niệm "dân tộc" vừa bao hàm nghĩa dân tộc - quốc gia, vừa chỉ đân tộc đa số và các dân tộc thiểu số trong một quốc gia.

"Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam" (Điều 5 - Hiến pháp 1999). Khái niệm "tộc người" bao gồm các cộng đồng người ở các thứ bậc từ thấp (còn đang ở trong phạm trù xã hội nguyên thuỷ) lên cao (đạt đến sự ra đời của nhà nước), thuộc các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, bởi vậy, trong quản lí nhà nước về dân tộc ở nước ta, dân tộc (Ethnie) được hiểu đồng nghĩa với tộc người. Ngày 4/12/2001 Hội đồng dân tộc của Quốc hội có công văn số 903 CV/HĐDT về việc đọc đúng tên và khái niệm về dân tộc; cụ thể là: - Các dân tộc hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam là chỉ tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam.

- Đồng bào dân tộc thiểu số hoặc các dân tộc thiểu số (viết tắt là DTTS) là chỉ đồng bào các dân tộc hoặc dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc Kinh (Việt). Không nên viết và nói tắt là "đồng bào dân tộc". - Người đân tộc thiểu số tức là chỉ người đó là người dân tộc thiểu số không nên viết và nói hoặc đọc là "người đân tộc, cán bộ dân tộc". QUAN HỆ DÂN TỘC Thực tế khái niệm dân tộc đã mang tính đa nghĩa, đa cấp độ thì quan hệ dân tộc cũng bao hàm những nội dung đa nghĩa.

Quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng - quốc gia (Nation) thì quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi đó, quan hệ dân tộc gắn với quan hệ quốc tế, với chính sách đối ngoại của một nhà nước một thể chế chính trị. Nó liên quan đến việc giải quy ết các quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới. Quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp Dân toc (Ethnic): quan hệ dân tộc là quan hệ giữa các dân tộc - tộc người trong một quốc gia đa dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ một dân tộc - tộc người.

Nội dung của quan hệ dân tộc 3. Quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng Nội dung của quan hệ dân tộc theo nghĩa rộng bao gồm các quan hệ cơ bản về ngôn ngữ, văn hoá, lãnh thổ v. Lênin phát hiện hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc. Thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các cộng đồng dân tộc độc lập, trong đó họ có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.

Thứ hai, các dân tộc muốn phá đổ hàng rào ngăn cách để liên hiệp lại, trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện, phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của lực lượng sản 76 xuất mang tính xã hội, phù hợp nhu cầu mở rộng, giao lưu kinh tế, văn hóa. giữa các dân tộc. Sự vận động có tính mâu thuẫn, nhưng thống nhất giữa hai xu hướng đó, mỗi dân tộc tiến tới độc lập. tự chủ, phon vinh và các dan tộc khác không ngừng xích lại gần nhau - là quy luật phát triển khách quan của sự phát triển dân tộc và môi quan hệ giữa các dân tộc.

Ngày nay các dân tộc có quyền tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm trong đó quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Xu hướng này hiện đang biểu hiện sức mạnh của nó trong phong trào giải phóng đân tộc chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách thực đân mới dưới mọi biểu hiện, công phá những khối liên hiệp giả hiệu mà thực chất là tấm bình phong để chủ nghĩa thực dân áp bức, bóc lột các dân tộc lạc hậu. Xu hướng này cũng thể hiện sức mạnh trong cuộc đấu tranh chống sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xung đột dân tộc. Độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia là xu hướng khách quan, là chân lí thời đại, là sức mạnh hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc.

Nhưng trong thời đại ngày nay, cùng với xu hướng "Ìi tâm" nêu trên, lực "hướng tâm" đang tác động mạnh mẽ lôi kéo các dân tộc xích lại gần nhau. Chính lực đó là chất keo, hàn gắn lại vết thương chia cắt "nhân tạo" ở một số quốc gia, dân tộc, trả lại nó nguyên trạng thống nhất đã được hình thành trong lịch sử. Cũng chính lực đó, các dân tộc, quốc gia tham gia vào các liên minh được hình thành do sự thúc đẩy của các lợi ích. 77 Bước vào những năm 90 của thế kỷ XX, thực tế đã chứng minh, xu hướng tập đoàn hóa, quốc tế hóa ở các khu vực của thế giới tăng lên rõ rệt, không chỉ do tác động của lợi ích kinh tế (các dân tộc, quốc gia trong khu vực muốn dựa vào nhau để vượt qua những khó khăn trước mắt và để phát triển kinh tế với tốc độ nhanh) mà còn do sự thúc đẩy của các lợi ích chính trị (các dân tộc, quốc gia này muốn tìm ở khối liên minh khu vực một chỗ dựa mong đối phó với sức ép của các siêu cường).

Xét trong phạm vi từng quốc gia, đa dân tộc; hai xu hướng có hình thức vận động riêng của chúng. Sự phồn vinh của từng dân tộc tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc xích lại gần nhau. Bởi vì, nó tạo ra cơ sở kinh tế- xã hội vững chắc cho sự kết dính ở trình độ cao hơn giữa các dân tộc, nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiểm năng của dân tộc mình, mà còn dựa vào tiềm năng của các dân tộc anh em trong khối liên minh vững chắc để tiến lên. Phải làm sao cho sự hòa quyện đó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc, nó không san bằng những đặc thù dân tộc; ngược lại, nó bảo lưu, giữ gìn và phát huy những tỉnh hoa, bản sắc của dân tộc 3.

Nội dung quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp Nội dung quan hệ dân tộc theo nghĩa hẹp được biểu hiện ở quan hệ giữa dân tộc - tộc người trong một quốc gia nhiều dân tộc, cũng như quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ một dân tộc - tộc người. Đảng ta đã khẳng định: "Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng 78 đồng dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thu n, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc"? Quan hệ tộc người trong một quốc gia nhiều dân tộc được thể hiện một cách tập trung trong những luận điểm sau: - Về tính thống nhất và da dạng của các tộc người trong một quốc gia. - Các đân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

- Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, xóa bỏ dần khoảng cách phát triển chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số được hưởng ngày càng đây đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị và văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ