Giáo trình Quản lí Nhà nước về Tôn giáo và Dân tộc - TS. Hoàng Văn Chức

Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc phần 1 của TS Hoàng Văn Chức cung cấp kiến thức chuyên sâu và thực tiễn về quản lý.

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản Lí Nhà Nước Về Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2004

72
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo TS Chức

Giáo trình Quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc của TS. Hoàng Văn Chức là một trong những tài liệu quản lí nhà nước nền tảng, được biên soạn bởi Khoa Quản lí nhà nước về xã hội - Học viện Hành chính Quốc gia. Cuốn sách cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện, từ lý luận về nhà nước và pháp luật đến thực tiễn công tác quản lý trong lĩnh vực nhạy cảm này. Mục tiêu của giáo trình là trang bị cơ sở phương pháp luận khoa học, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp người học hoạch định chính sách và phương thức quản lý hiệu quả. Nội dung của phần thứ nhất tập trung sâu vào các hoạt động tôn giáo, một lĩnh vực đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về lịch sử, văn hóa và xã hội. Đây không chỉ là tài liệu dành cho sinh viên, học viên mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho các cán bộ, công chức đang thực thi nhiệm vụ trong hệ thống chính trị. Bằng cách tiếp cận hệ thống và tổng kết thực tiễn, bài giảng TS Hoàng Văn Chức đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác tôn giáo và dân tộc tại Việt Nam, góp phần ổn định xã hội và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

1.1. Vai trò của tài liệu từ Học viện Hành chính Quốc gia

Giáo trình này đóng vai trò là tài liệu chính thống, được biên soạn bởi một cơ quan đào tạo hàng đầu là Học viện Hành chính Quốc gia. Mục đích chính là cung cấp kiến thức chung nhất về tôn giáo và dân tộc, làm nền tảng phương pháp luận để nghiên cứu các vấn đề thực tiễn của quản lý hành chính nhà nước. Tài liệu trang bị ba nhóm kiến thức cốt lõi: (1) Kiến thức cơ bản về dân tộc và tôn giáo liên quan đến quản lý nhà nước; (2) Thực tiễn về dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam và thế giới; (3) Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và các phương thức quản lý chủ yếu. Nhờ đó, người học có được cái nhìn toàn diện và hệ thống, sẵn sàng giải quyết các tình huống phức tạp trong thực tế.

1.2. Cấu trúc và phương pháp luận trong bài giảng của TS Chức

Phần thứ nhất của giáo trình, tập trung vào Quản lí Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, được cấu trúc một cách logic qua 3 chương chính. Bắt đầu từ những khái niệm chung về tôn giáo, nguồn gốc và vai trò, tài liệu đi sâu vào đặc điểm các tôn giáo lớn tại Việt Nam. Cuối cùng, chương 4 trình bày chi tiết về nội dung công tác quản lí nhà nước về tôn giáo. Phương pháp luận được sử dụng là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu hiện đại như phương pháp hệ thống, điều tra xã hội học và tổng kết thực tiễn. Cách tiếp cận này đảm bảo tính khoa học, khách quan và bám sát thực tiễn công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước.

II. Top thách thức trong công tác quản lí nhà nước về tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc, điều này tạo nên sự phong phú về văn hóa nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý. Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam luôn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp, có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây mất ổn định chính trị, xã hội. Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để tiến hành các hoạt động trái pháp luật, tuyên truyền tà đạo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Hơn nữa, xu thế toàn cầu hóa làm gia tăng các hoạt động tôn giáo xuyên quốc gia, đặt ra yêu cầu mới về an ninh tôn giáoan ninh dân tộc. Giáo trình của TS. Hoàng Văn Chức đã chỉ rõ, các xung đột dân tộc trên thế giới thường đan xen với xung đột tôn giáo. Đây là một xu thế mà công tác quản lý nhà nước cần đặc biệt quan tâm để có những giải pháp phòng ngừa từ sớm, từ xa. Việc nhận diện đúng và xử lý khéo léo các vấn đề này đòi hỏi một nền tảng lý luận vững chắc và sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn, điều mà tài liệu này hướng tới cung cấp.

2.1. Phân tích vấn đề an ninh tôn giáo và an ninh dân tộc

An ninh tôn giáo và an ninh dân tộc là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tài liệu nhấn mạnh rằng các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách lợi dụng những khác biệt về tín ngưỡng và sắc tộc để kích động ly khai, tự trị, phá hoại sự ổn định quốc gia. Sự phát triển nhanh của một số "hiện tượng tôn giáo mới" hay các hoạt động truyền đạo trái phép là những nguy cơ trực tiếp đối với an ninh tôn giáo. Việc quản lý không chặt chẽ có thể dẫn đến những xung đột xã hội, làm suy yếu sức mạnh quốc gia. Do đó, việc xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc và các phương thức quản lý phù hợp là nhiệm vụ cấp bách.

2.2. Nguy cơ lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

Mặc dù quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ, nhưng đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng. Một số cá nhân, tổ chức đã núp bóng tôn giáo để thực hiện các hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân, hoặc nguy hiểm hơn là các hoạt động chính trị chống phá Nhà nước. Giáo trình chỉ rõ: "Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại đến độc lập dân tộc... đều bị xử lí theo pháp luật". Việc phân biệt giữa sinh hoạt tôn giáo thuần túy và hoạt động lợi dụng tôn giáo đòi hỏi cán bộ quản lý phải có trình độ chuyên môn cao và bản lĩnh chính trị vững vàng.

III. Hướng dẫn chính sách tôn giáo của Đảng trong sách TS Chức

Giáo trình dành một phần quan trọng để hệ thống hóa quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo. Đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực này. Nội dung cốt lõi của chính sách là công tác vận động quần chúng, xem đây là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Quan điểm nhất quán của Đảng là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng của nhân dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay sau Tuyên ngôn độc lập: "tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết". Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đưa ra những đánh giá quan trọng trong tình hình mới, khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và sẽ tồn tại lâu dài. Chính sách của Đảng không chỉ dừng lại ở việc tôn trọng mà còn khuyến khích phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo để xây dựng xã hội mới, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

3.1. Nội dung cốt lõi chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

Nội dung cốt lõi được thể hiện qua năm quan điểm chỉ đạo chính: (1) Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. (2) Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. (3) Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. (4) Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. (5) Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Những quan điểm này tạo thành một hệ thống đồng bộ, vừa đảm bảo quyền của công dân, vừa giữ vững kỷ cương phép nước, là nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững.

3.2. Nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng

Đây là nguyên tắc cơ bản và bao trùm. Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, khẳng định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt người có đạo hay không có đạo. Nhà nước tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thừa nhận hoạt động theo pháp luật, được mở trường đào tạo, xuất bản kinh sách và xây dựng cơ sở thờ tự. Tuy nhiên, việc thực hành quyền tự do tín ngưỡng phải đi đôi với nghĩa vụ công dân, không được làm phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

IV. Phương pháp quản lí nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo

Giáo trình của TS. Hoàng Văn Chức đã hệ thống hóa một cách khoa học các nội dung và phương thức trong công tác quản lí nhà nước về tôn giáo. Quản lý nhà nước không phải là can thiệp vào đức tin, giáo lý, mà là quản lý các hoạt động tôn giáo với tư cách là một hoạt động xã hội, đảm bảo chúng diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật. Nội dung quản lý bao gồm việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách; giải quyết các nhu cầu chính đáng của tổ chức, cá nhân tôn giáo; và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo. Phương thức quản lý rất đa dạng, kết hợp giữa biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục và thuyết phục. Trong đó, phương thức giáo dục, vận động quần chúng được xem là cốt lõi, nhằm nâng cao ý thức pháp luật và tinh thần yêu nước trong đồng bào có đạo, để họ tự giác sống "tốt đời, đẹp đạo", góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc áp dụng linh hoạt các phương thức này giúp công tác quản lý đạt hiệu quả cao nhất.

4.1. Đối tượng nội dung và phương thức quản lý chủ yếu

Đối tượng quản lý không phải là bản thân tôn giáo hay niềm tin, mà là các hoạt động xã hội của các tổ chức và cá nhân tôn giáo. Nội dung quản lý tập trung vào việc ban hành chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Về phương thức, giáo trình nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa quản lý bằng pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và vận động quần chúng. Phương thức hành chính chỉ được áp dụng khi cần thiết để duy trì trật tự, kỷ cương. Sự kết hợp này thể hiện tính nhân văn và hiệu quả trong quản lý hành chính nhà nước.

4.2. Nhiệm vụ của hệ thống chính trị trong công tác tôn giáo

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, từ các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc đến các đoàn thể. Mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước, trong khi Mặt trận và các đoàn thể làm tốt công tác vận động, tập hợp quần chúng. Sự phối hợp đồng bộ này tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc.

V. Phân tích các tôn giáo lớn ở Việt Nam qua lăng kính quản lí

Để thực hiện tốt công tác quản lí nhà nước về tôn giáo, việc am hiểu đặc điểm của từng tôn giáo lớn tại Việt Nam là vô cùng cần thiết. Phần thứ nhất trong giáo trình của TS. Hoàng Văn Chức đã dành một chương riêng để phân tích sâu về Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hòa Hảo. Mỗi tôn giáo có lịch sử du nhập, hệ thống giáo lý, cơ cấu tổ chức và mức độ ảnh hưởng khác nhau trong xã hội. Ví dụ, Phật giáo có lịch sử lâu đời và xu hướng hòa hợp với văn hóa dân tộc. Công giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ trên toàn cầu. Đạo Tin Lành lại phát triển nhanh trong một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc nắm vững những đặc điểm này giúp cơ quan quản lý nhà nước có những chính sách, phương pháp tiếp cận phù hợp, vừa tôn trọng đặc thù tín ngưỡng, vừa đảm bảo sự tuân thủ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc phòng ngừa, giải quyết các vấn đề phức tạp, góp phần duy trì an ninh tôn giáo và ổn định xã hội.

5.1. Đặc điểm hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

Hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật như: tính đa dạng (nhiều tôn giáo cùng tồn tại), tính đan xen hòa đồng (các tôn giáo có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau và với tín ngưỡng bản địa), và phần lớn tín đồ là nông dân lao động. Sự hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm này là chìa khóa để xây dựng các chính sách phù hợp với thực tiễn, tránh áp đặt máy móc, rập khuôn, qua đó củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân có đạo vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

5.2. Quản lý đối với Phật giáo Công giáo và các tôn giáo khác

Đối với mỗi tôn giáo, công tác quản lý cần có sự linh hoạt. Với Phật giáo, cần phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc. Với Công giáo, cần tạo điều kiện cho đồng bào thực hiện đường hướng "sống phúc âm giữa lòng dân tộc". Đối với đạo Tin Lành, cần quan tâm đến tính quốc tế và sự phát triển nhanh ở một số vùng đặc thù. Đối với các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo, cần hướng dẫn các tổ chức hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ đã được Nhà nước công nhận, gắn bó với sự nghiệp chung của dân tộc. Cách tiếp cận riêng biệt này đảm bảo hiệu quả của công tác quản lí nhà nước về tôn giáo.

21/07/2025
Giáo trình quản lí nhà nước về tôn giáo và dân tộc phần 1 ts hoàng văn chức

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cuốn "Góp phần phê phán triết học pháp quyển của Hêghen", khi bàn về tôn giáo, C. Mác đã viết: 13 "Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người". Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người, chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa. Những con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới.

Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lí luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lôgíc dưới hình thức phổ cập của nó, là point đhonneur' duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó, là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự.

Do đó, đấu tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tỉnh thần của nó là tôn giáo. Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực. Vừa là sự phan khang chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tìm của thế giới không có trái tìm, cũng giống như nó là tỉnh thần của những trật tự không có tỉnh thần.

Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ khẳng định tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội, mà còn khẳng định trong bản thân tôn giáo chứa đựng cả những yếu tố tích cực và ' Vấn đề danh dự. 3C Mác và Ph Ẩngghen. Tôn giáo là cái bổ sung cho sự thiếu hụt trong hiện thực của con người.

Nhưng tôn giáo bù đắp sự thiếu hụt của hiện thực bằng hư ảo, tôn giáo xoa dịu nỗi đau của con người bằng thứ thuốc an thần. Mặt tích cực và tiêu cực của tôn giáo được thể hiện rõ nét trong chức năng "đền bù hư ảo"; song, xét đến cùng, thì sự an ủi mơ hồ, sự giảm đau là tiêu cực, vì nó hạn chế tính tích cực hiện thực của con người. Bởi thế, theo C.Mác, muốn khắc phục tôn giáo trước hết phải cải tạo hiện thực. Đấu tranh chống bọn lợi dụng tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái xã hội sản sinh ra tôn giáo.

Trong quản lí nhà nước về các hoạt động tôn giáo (tôn giáo cá nhân và tôn giáo có tổ chức) chúng ta cần đặc biệt chú ý hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tổ chức được hiểu như sau: Tôn giáo là một tổ chức, đại điện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lí hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội. - Mê tín, dị đoan (Superstition), là hai khái niệm thường được dùng cặp đôi trong tiếng Việt, để chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, đồng cốt, gọi hồn, những điểm lạ v. và coi đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội. Mê tín không phải là hoàn toàn xa lạ hay đối lập với tôn giáo.

Ngoài những khái niệm trên, còn một số khái niệm được sử dụng trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Nguồn gốc hình thành Tín ngưởng, tôn giáo là hiện tượng đã có từ lâu trong đời sống tỉnh thần của con người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có những định nghĩa hoàn chỉnh. Trước hết là vì xuất phát từ những trường phái triết học khác nhau, người ta có những khái niệm và những luận cứ khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn giáo là một phạm trù của ý thức, nhưng là phạm trù rất đặc biệt; bởi vì nó còn là một yếu tố xã hội, yếu tố văn hóa, có tính không gian, thời gian và quần chúng đông đảo.

Trong cộng đồng một tôn giáo cụ thể, tín đồ của tôn giáo đó có thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội, tộc người, ngôn ngữ khác nhau tham gia. Nhà nước nào cũng có một thái độ ứng xử với tôn giáo, thường gọi là chính sách tôn giáo. Nhà nước trong xã hội do giai cấp bóc lột thống trị thường liên kết với các giáo hội, các tổ chức tôn giáo và lợi dụng nó như một công cụ trong quản lí nhà nước. Ngược lại các tổ chức tôn giáo cũng lợi dụng mọi thời cơ, dựa vào nhà nước và quyền lực nhà nước để mở rộng ảnh hưởng của mình trong xã hội.

Tùy theo phong tục, tập quán, lối sống của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực. hình thức biểu hiện của tôn giáo rất đa dạng, phong phú. Hiện nay trên thế giới có hàng trăm tôn giáo, hình thức biểu hiện không giống nhau, rất phức tạp; vì nó phản ánh tâm thức cho từng cộng đồng, cho dù cộng đồng đó có cùng phương thức sản xuất. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tôn giáo ra đời từ những nguồn gốc cơ bản sau: 16 - Nguồn gốc kinh tế - xã hội.

- Nguồn gốc nhận thức. - Nguồn gốc tâm lí tình cảm. BAN CHẤT VA VAI TRO CUA TON GIAO 1. Bản chất và tính chất của tôn giáo Tôn giáo là một thành tố của kiến trúc thượng tầng, là một hình thái của ý thức xã hội phản ánh tổn tại xã hội.

Song, sự phản ánh đó là: sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian”. Tính chất của tôn giáo, tôn giáo có 3 tính chất cơ bản sau: - Tính lịch sử. - Tính quần chúng. - Tính chính trị.

Vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội Khi nói tới tác động của tôn giáo đối với xã hội con người, C.Mác đã nhận xét như sau: "Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tìm của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tỉnh thần của °C. Mac - Ph Angghen. NXỔ Sự that, HN 1980. TON GIAO VA DAN TOC những trật tự không có tỉnh thần.

Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"t. Trong lịch sử của loài người, tôn giáo đã từng là một thế lực chính trị hay là chỗ dựa cho những thế lực chính trị khác nhau. Uy lực của Tòa Thánh La Mã thời Trung cổ ở châu Âu là dẫn chứng điển hình nhất. Tôn giáo không chỉ chuyên về các van dé tinh than, đạo đức mà còn trực tiếp can dự vào các hoạt động kinh tế, kinh doanh của con người.

Dùng uy tín, ảnh hưởng của mình để quyết định các quan hệ sở hữu, ủng hộ dạng hoạt động kinh tế này, phủ nhận dạng hoạt động kinh tế khác. Tôn giáo đã gắn cho các quá trình kinh tế những cơ sở tư tưởng thích ứng với từng thời đại, tạo ra những kích thích về tỉnh thần cho hoạt động kinh tế và những tiêu chí đạo đức cho hành vi kinh tế trong xã hội. Các dạng tôn giáo khác nhau tự thể hiện mình một cách khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tôn giáo không thể tồn tại nếu chỉ đáp ứng một cách hư ảo khát vọng của con người.

Bởi vậy, cần thấy ở tôn giáo khía cạnh văn hóa, đạo đức của nó. Chừng nào con người còn sống trong cõi thế gian, họ vẫn còn mong muốn được sống trong mỗi xã hội công bằng, nhân ái. Tôn giáo đã tìm thấy ở đó những chất liệu thật, gần gũi với con người nhất, để tạo dựng nên hệ thống luân lí đạo đức của mình. Hệ thống đạo đức, luân lí của những tôn giáo khác nhau về niềm tin, xa nhau về địa lí, vẫn có một mẫu số chung, đó là nội dung khuyến thiện của hệ thống đạo đức đó.

18 Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn muến tìm cái nay trong và ngoài tôn giáo nhằm mục đích duy nhất là đoàn kết mọi người vào việc thực hiện lí tưởng: Độc lập, tự đo, đân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, đân chủ và văn mình. Tư tưởng đó được Bác viết như sau: "Học thuyết của Không Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ải cao œ Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dat Tién có ưu điểm của nó là chủ nghĩa yêu nước, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta.

Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội 'u hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị đó". XU THẾ HIỆN NAY CỦA CÁC TÔN GIÁO TRÊN THỂ GIỚI Trong tình hình thế giới hiện nay, tùy từng nước, từng khu vực, từng dân tộc, quốc gia; diễn biến của các tôn giáo mang những đặc thù cho mỗi khu vực, dân tộc. Trong đó có những xu thế cơ bản sau: 1.

Xu thế thế tục hóa Trong quan niệm truyền thống, tôn giáo là cái gì thiêng liêng, cao siêu, huyển bí. vượt qua những hiện tượng trần tục. Những đấng bậc siêu nhân như: thần, thánh, tiên, phật v. luôn là những khái niệm trung tâm 19 của thần học.

Suốt đêm dài Trung cổ, phương Tây bị chìm đắm dưới sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm thần học, bất kể luồng tư tưởng mới lạ nào xuất hiện đều bị xem là "tà đạo", "đị giáo" và lập tức được thiết lập theo "ý Chúa". Lời của Chúa và Kinh thánh không cần bất cứ sự chứng minh nào cả. Con người đương nhiên trở thành sinh vật thụ động, chịu mọi sự phán bảo của Chúa. Ngày nay, tình trạng trên chưa phải hết, nhưng đã khác nhiều.

Những sự huyễn hoặc, thiếu cơ sở bị nghỉ ngờ, cách giải thích phi thực tế bị bãi bỏ, những nghỉ lễ rườm rà, phiền toái bị lên án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ