CHƯƠNG 1: LY THUYET TRUYEN THONG UNG DUNG TRONG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG. Lý thuyết truyền thông giao tiếp — cơ sở lý luận của Quan hệ công chúng.2 Các vấn đề trong quá trình truyền thông và giao tiếp liên quan đến Quan hệ CONG. 10 CHUONG 2: LY THUYET VE QUAN HE CONG CHÚNG.1 Quan hệ công chúng, là gì?. Phân biệt Quan hệ công chúng và một số loại hình truyền thông khác.3 Lịch sử quan hệ công chúng.
36 CHƯƠNG 3: QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CHUYÊN NGHIỆP. Vị trí, vai trò của Quan hệ công chúng trong tổ chức và trong xã hội. Những chức năng của Quan hệ công chúng. Những nhiệm vụ cơ bản của người làm Quan hệ công chúng 3.
Những nội dung hoạt động cơ bản của Quan hệ công chúng trong thực tiễn. Những nguyên tắc hoạt động của Quan hệ công chúng. Hình ảnh nhân viên Quan hệ công chúng. 65 CHƯƠNG 4: QUAN HỆ CÔNG CHÚNG ĐƯƠNG ĐẠI VÀ NHỮNG XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN.1 Sự phát triền của ngành PR tại Việt Nam.2 Những xu hướng phát triển ngành PR tại Việt Nam.
96 CHUONG 5: QUAN HE CONG CHUNG VA NHUNG VAN DE PHAP LUAT, DAO DUC LIEN QUAN Docc ceccccsssssssssessssesssseesssssassestssasssvessessese cses 5.1 Những vấn đề pháp luật liên quan đến Quan hệ công chúng 5.2 Những vấn đẻ về đạo đức Quan hệ công chúng. CHUONG 1: LY THUYET TRUYEN THONG UNG DUNG TRONG -. QUAN HỆ CÔNG CHUNG 1,1. Lý thuyết truyền thông giao tiếp — cơ sở lý luận của Quan hệ công chúng.
, Giao tiép chính là cơ sở của những mối quan hệ giữa người với người. Từ lúc sinh ra cho đến lúc giã biệt cuộc đời, con người không thể tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thành phần của gia đình, xã hội. suốt cuộc đời, chúng ‘ta luôn cần có sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ, cộng tác của những người khác từ vật chất cho đến tỉnh thần để có ~ thể tồn tại, phát triển và thành đạt trong cuộc sống. Để xây dựng, đuy trì và phát triển những mỗi quan hệ này, chúng ta phải dựa vào các hoạt động giao tiếp.
Giao tiếp là những hoạt động trao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những suy nghĩ, tình cảm, hiểu biết, kinh nghiệm, vốn sống, tri thức. dé tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy sự hợp tác với nhau, từ đó đạt thành công trong công việc và cuộc sống. Hoạt động giao tiếp diễn ra khắp nơi và liên tục, giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của con người, một hoạt động cơ bản và cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội loài người đã dẫn đến sự ra đời của những tổ chức có quy mô ngày càng lớn, ví dụ như các công ty sản xuất hàng hóa phục vụ người tiêu dùng, các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, các cơ quan chính phủ, các đảng phái, các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe con người.Nhu cầu giao tiếp giờ đây không chỉ còn dừng lại giữa các cá nhân.
Các tổ chức cũng có nhu cầu giao tiếp với công chúng của mình - đó là những người, nhóm người mà tổ chức đó có ảnh hưởng và bản thân họ cũng có tác động đến lợi ích, sự tồn vong của tổ chức, Để tồn tại và phát triển, tổ chức cần được công chúng biết đến, hiểu và ủng hộ. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua những hoạt động giao tiếp được tiến hành thường xuyên, duy trì lâu đài - hay nói cách khác - đó là những hoạt động giao tiếp chuyên nghiệp, mà trong 4 đó các hoạt động Quan hệ công chúng có thể được coi điển hình. Giao tiếp chuyên nghiệp là sự thể hiện bước phát triển mới của hoạt động giao tiếp. Tầm quan trọng và những ứng dụng của giao tiếp trong đời sống xã hội đã đặt ra nhu cầu về việc nghiên cứu, tìm hiểu về bản chất khoa học của giao tiếp, nhằm vận dụng nó một cách tốt nhất trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong các hoạt động truyền thông.
Chính từ đó, các lý thuyết giao tiếp đã được hình thành và không ngừng phát triển. Phần này sẽ trình bày sơ bộ một số lý thuyết cơ bản làm nền tảng cho việc thực hành các hoạt động. giao tiếp, các hoạt động Quan hệ công chúng. - Quá trình giao tiếp - Hoạt động giao tiếp thực sự diễn ra như thế nào? Từ năm 1949, trong cuốn Lý thuyết toán học của giao tiếp (The mathematical theory of communication), hai tac gid Shannon va Weaver d& đưa rạ một mô hình truyền thông bao gồm các yếu tố: Nguồn phát (Information source), thông điệp (message), kênh (transmitter), nhiéu (noise), đối tượng tiếp nhận (receiver).
Sau đó, ba nhà nghiên cứu Cutlip, Center va Broom tiếp tục bỗ sung để làm sáng tỏ cơ chế của quá trình giao tiếp. INFORMATION SOURCE TRAN: MESSAGE s0uREE ` lg. Schematic diagram of a general communication system. Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver, 1940 Mô hình truyền thông hay quá trình giao tiếp có thể được mô tả như sau: Nguồn phát thông tin (information Source) sẽ gửi đi các thông điệp (message) đã được mã hóa (transmitter) đến đối tượng tiếp nhận (receiver) ' Claude E Shannon & Warren Weaver, The Mathematical Theory of Communication, Board of Trustees of the University of Illinois, USA.
Tr 3 thông qua các kênh truyền thông (signal). Người nhận giải mã: các thông điệp này và có phần hồi đối với người gửi. Trong quá trình gửi và nhận thông điệp có thể bị cản trở hoặc ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu. Ngoài ra, con phải kế đến yếu tố khung nhận thức chung cũng ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình giao tiếp.
Thông điệp Thông điệp là nội đung thông tin được trao đổi từ người phát đến đối tượng tiếp nhận. Thực chất, thông điệp là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học, kỹ thuật đã được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó (Tạ Ngọc Tấn, 2001 ). Thông điệp phải được cả hai bên phát và nhận cùng chấp nhận, cùng có chung cách hiểu. Thông điệp có thể được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ (nói hoặc viết) và các tín hiệu phi ngôn ngữ (quần áo hoặc cử chỉ, điệu bộ, hình vẽ, tín hiệu biển báo) Chúng ta cũng nhận các thông điệp thông qua những điều mà chúng ta trải nghiệm khi chúng ta tiếp xúc với một tổ chức, một con người và cảm nhận của chúng ta về trải nghiệm đó.
Nguồn phát (Người gửi): Những người làm Quan hệ công chúng thường là người tạó ra các thông điệp; và bước đầu tiên là phải rất rõ ràng về mục tiêu mà bạn muốn hoạt động giao tiếp sẽ đạt được. Có phải bạn đang định giáo dục công chúng về một vấn đề gì đó, hay cố gắng thuyết phục đối tượng về một quan điểm nào | đó và vận động sự ủng hộ, hoặc chỉ đơn giản là thiết lập một mối liên hệ nhữ là bước đầu tiên cho các hoạt động giao tiếp khác nhau? Mục tiêu của người làm Quan hệ công chúng sẽ định hướng toàn bộ quá trình thông tin. `` Ví dụ, các chiến dịch Quan hệ công chúng có thể được dựa trên lý thuyết về Các Tang Hiệu quả: Thuyết này xác định những loại hiệu quả khác ` nhau có thê đạt được, trong đó bao gồm việc hình thành thông điệp; phổ biến thông điệp, nhận thông điệp; hiểu thông điệp; thay đổi hoặc củng cố thái độ: và thay đổi hoặc củng cố hành vi. “Trong một chương trình Quan hệ công chúng cụ thể, người làm Quan hệ công chúng xác định họ muốn đạt đến mức độ hiệu quả nào để thiết kế hoạt động truyền thông một cách phù hợp nhằm đạt được, hiệu quả mà họ mong muốn.
Mô hình Các Tầng Hiệu quả Quan hệ công chúng - Mã hóa Mã hoá là hành động gửi thông điệp, còn giải mã là hành động tiếp nhận thông điệp. Các lý thuyết hướng vào nghệ thuật xây dựng thông điệp nhằm đảm bảo thông điệp có khả năng tạo nên sự hiểu biết và ý nghĩa mong muốn, đồng thời phù hợp với khán giả là những lý thuyết có thể hỗ trợ người làm Quan hệ công chúng trong việc mã hóa thông điệp: Những hình ảnh, tín hiệu và ngôn từ đều là những yếu tố có thể chuyển tải ý nghĩa (ngữ nghĩa học). Nhiệm vụ khó khăn của người làm Quan hệ công chúng là phải xây dựng những thông điệp có khả năng chuyến tải một cách rõ rằng và thuyết phục các suy nghĩ và hiểu biết. Ví dụ, bạn hãy nghĩ xem bạn sẽ sử đụng những từ và hình ảnh rất khác nhau để nói về cùng một khái niệm với một- người lớn và một đứa trẻ.
Quảng cáo 'hoạt động dựa trên cơ sở này. Kênh Kênh là cách thức hoặc phương tiện chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Kênh có thể là một bức thư, một cuốn sách, một bản tin nội bệ, một chương trình phát thanh hay truyền hình. Các kênh hoặc phương tiện truyền thông khác nhau có thể đem lại những hiệu quả khác nhau đối với một nhóm công chúng cụ thể nào đó.
Nhà nghiên cứu người Canada McLuhan dua ra học thuyết phân biệt giữa phương tiện truyền thông nóng và phương tiện truyền thông lạnh, trong đó ông cho rằng phương tiện lạnh là những loại phương tiện truyền thông mà khán giả phải nỗ lực nhiều để có thể rut rạ được ý nghĩa (hiểu được), trong khi phương tiện truyền thông nóng tạo điều kiện dễ dàng cho khán giả tiếp thụ thông điệp (ví dụ: truyền thanh đối lập với truyền hình). Các thông điệp lạnh có tính trừu tượng hơn và cho phép mỗi đối tượng tiếp nhận hiểu thông điệp theo một cách khác nhau. Trong một số trường hợp, người làm Quan hệ công chúng muốn đối tượng tiếp nhận tự suy nghĩ về một vấn đề hoặc tiếp thu thông tin, khi đó chúng ta sẽ chọn một loại phương tiện đòi hỏi có nhiều sự tham gia hơn của đối tượng, hoặc cũng có trường hợp chúng ta muốn đối tượng chấp nhận thông điệp một cách đễ đàng và đơn giản nhất, không cần đầu tư nhiều công sức và suy nghĩ. Không phải tất cả mọi người đều nhận thông tin qua cùng một con đường hoặc cùng một kiểu, đo đó chúng ta cần sử dụng nhiều kỹ thuật truyền thông khác nhau để đảm bảo rằng thông điệp được chuyển tải đến với đối tượng.