Chương I GIÁO DỤC CHUẨN MỰC NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT |. KHAI QUAT VE GIAO DUC CHUAN MUC NGỮ ÂM 1. Bộ máy phát âm - Cơ quan sản sinh âm thanh ngôn ngữ Mỗi người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản sinh âm thanh ngôn ngữ. Nó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như trong cấu tạo của nó có một sự khiếm khuyết nào đó (chẳng hạn như hở hàm ếch, lưỡi ngắn, sứt môi,.) thì việc hình thành lời nói cũng hết sức khó khăn.
Khi sinh ra, mỗi con người không phải đã có ngay một bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dân dân bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện dân của hai hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, của hàm dưới,. Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học. Tuy nhiên, bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền dé vật chất.
Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ. Giáo dục chuẩn mực ngữ âm là gì? Lời nói có hai mặt: âm thanh và ý nghĩa. Hai mặt này thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau. Ý nghĩa của lời nói được người khác hiểu đúng chỉ khi âm thanh phát ra chính xác.
Vì thế rèn luyện chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ là rất cần thiết. Chất lượng của âm thanh ngôn ngữ sẽ là tiền đề của chất lượng giao tiếp ngôn ngữ Chuẩn mực âm thanh lời nói: xuất phát từ thuật ngữ tiếng Nga: Zvukovaia kultura rechi (một số giáo trình hiện nay của ta gọi là: Giáo dục văn hoá nói, luyện phát âm cho trẻ,. là không chính xác). Cần hiểu rằng: thuật ngữ này thể hiện cái văn hoá, chuẩn mực về phương diện ngữ âm của lời nói.
Xalaviova, một nhà sư phạm Nga đã viết: "Trước mặt nhà sư phạm đặt ra nhiệm vụ giáo dục trẻ phát âm rõ ràng, đúng các âm trong các từ, phát âm đúng 89 các từ tương ứng với chuẩn mực ngữ âm tiếng Nga; giáo dục phát âm rõ nét và giáo dục tính biểu cảm trong lời nói cho trẻ". Như vậy, theo Xalaviova thì cần tập cho trẻ phát âm chính xác và biểu cảm. Có thể hiểu đơn giản là giáo dục chuẩn mực ngữ âm bao gồm toàn bộ những công việc cần làm để tạo ra chất lượng âm thanh ngôn ngữ. Bắt đầu từ việc phát triển thính giác, hoàn thiện cơ quan phát âm đến việc luyện tai nghe, luyện thở ngôn ngữ và phát âm theo chính âm, luyện ngữ điệu để có âm thanh lời nói biểu cảm.
Giáo dục chuẩn mực âm thanh lời nói không tách rời các mặt nhiệm vụ khác của phát triển lời nói: cung cấp vốn từ, luyện nói đúng các kiểu câu, phát triển lời nói mạch lạc. NHIỆM VỤ GIÁO DỤC CHUẨN MỰC NGỮ ÂM 1. Hoàn thiện cơ quan phát âm Tuổi mầm non là giai đoạn đầu tiên trẻ học nói, cũng chính là giai đoạn phát triển và hoàn thiện cơ quan phát âm. Chính vì thế mà giáo dục ngữ âm giai đoạn này khó khăn hơn các giai đoạn sau trong cuộc đời của trẻ.
Cân quan tâm sao cho cơ quan phát âm của trẻ phát triển bình thường, theo đúng quy luật sinh học. Việc chăm sóc sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh cho cơ quan phát âm, rèn luyện cho nó hoạt động đúng với chức năng sản sinh âm thanh ngôn ngữ là góp phần quan trọng nâng cao chất lượng âm thanh ngôn ngữ. Rèn luyện khả năng nghe lời nói Phản ứng nghe các âm thanh tự nhiên xuất hiện ở trẻ rất sớm. Trẻ có thể phản ứng được với các mức độ khác nhau của âm thanh lời nói: sự âu yếm hay quát mắng của người lớn; phân biệt được âm sắc giọng nói của mẹ và những người thân.
Từ một nguồn âm thanh (ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ như tiếng chim hót, súc sắc, tiếng nhạc,.) trẻ có thể tập trung hướng vào đó. Một tiếng chỉm hót, một bài hát ru,. khiến cho trẻ im lặng, chú ý lắng nghe. Trẻ nghe được các âm vị và sớm phân biệt chúng.
Ví dụ: tiếng "bà" khác với các tiếng "bé", "bố" nhờ các âm vị ø, e, ó; tiếng "nhà" khác với các tiếng "bà", “gà” nhờ các âm vị b, g. Rèn luyện cho trẻ tri giác được tính biểu cảm của ngôn ngữ: sự âu yếm của bà, của mẹ; sự giận dữ của người lớn; sự du dương của một bản nhạc, một bài hát ru,. điều này được chứng minh bằng phản ứng phù hợp của trẻ (qua nét mặt, cử chỉ, vận động,. 90 Rèn luyện khả năng nghe cho trẻ bao gồm các thành tố: rèn luyện khả năng chú ý nghe, nghe cao độ, nghe từng âm vị, tri giác tốc độ, nhịp độ lời nói.
Khả năng nghe tốt sẽ tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển. Rèn luyện khả năng phát âm Yêu cầu: Trẻ phải phát âm đúng tất cả các âm vị trong tiếng Việt dù nó nằm ở vị trí nào (đầu, giữa hoặc cuối âm tiết). Rèn luyện bộ máy phát âm: phát triển sự linh hoạt của lưỡi, lưỡi có thể chuyển động, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác như: răng, môi, ngạc,. phát triển sự linh hoạt của môi (kéo môi về phía trước, làm tròn môi, giãn môi, mím môi, tạo khe hở giữa môi và răng,.) phát triển kĩ năng làm cho hàm dưới trong tư thế xác định phù hợp.
~ Chú ý rèn luyện thở ngôn ngữ: là kĩ năng hít vào nhanh, ngắn và thở ra nhịp nhàng, tạo điều kiện cho khả năng nói các câu một cách thoải mái trong quá trình diễn đạt. Thở ngôn ngữ đúng tạo điều kiện phát âm rõ nét, giữ được cường độ nói phù hợp, lời nói khúc triết, nhịp nhàng, ngữ điệu biểu cảm,. — Chú ý đến đặc tính của giọng nói cần được phát triển: + Cao độ: Sự nâng lên hạ xuống của âm thanh chuyển giọng từ cao xuống thấp và ngược lại. + Cường độ: Phát âm với một cường độ xác định (to, trung bình, nhỏ) hợp lí, phù hợp ngữ cảnh.
+ Âm sắc: Sắc thái của giọng (âm vang, trong, trầm ấm, đục,. Hoàn thiện chuẩn mực chính âm Chính âm: Quy định thống nhất về âm thanh ngôn ngữ tiếng nói của một quốc gia, dân tộc. Để có được chính âm cần 2 điều kiện: Thứ nhất, các nhà nghiên cứu ngữ âm phải chỉ ra được phương ngữ nào được coi là chuẩn trong một ngôn ngữ. Thứ hai, Nhà nước phải có quy định có tính pháp luật yêu cầu toàn dân phải nói theo chính âm.
Khi chúng ta giao tiếp theo chính âm thì giữa các vùng miền khác nhau sẽ không còn tình trạng cùng nói tiếng Việt, mỗi vùng phát âm khác nhau dẫn đến khó hiểu nhau. Trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ xác định phát âm của phương ngữ Hà Nội được lấy làm cơ sở chính âm. Tuy nhiên, hệ thống âm đầu của người Hà Nội cân bổ sung thêm 3 âm: , /r và r thì mới đây đủ 22 phụ âm chuẩn. Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định nhân dân cả nước phải nói tiếng Hà Nội, phải triệt để xoá ngọng nên vẫn xảy ra tình trạng khó hiểu nhau khi giao tiếp giữa người dân giữa các vùng miền.
91 Giáo viên mầm non trước hết phải nói đúng chính âm. Rồi sau đó là phải luyện cho trẻ nghe và nói theo chính âm. Căn cứ vào đó làm mẫu cho trẻ phát âm | theo chính âm, khắc phục các lỗi do tiếng địa phương gây ra. Rèn luyện ngữ điệu của lời nói — Ngữ điệu: Đó là tổng hợp phức tạp các phương tiện biểu cảm ngữ âm của lời nói bao gồm: giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm (lôgic và ngữ pháp), âm sắc.
~ Giai điệu: Nâng hoặc hạ giọng nói làm cho lời nói mang sắc thái khác nhau (du dương, mềm mại, êm ái, dứt khoát.) tránh lời nói đơn điệu (thay đổi cả cao độ và cường độ). ~ Tốc độ: Nhanh hay chậm, phụ thuộc vào nội dung diễn đạt. — Nhịp điệu: Lời nói nhịp nhàng, tách bạch các từ, âm tiết tạo nên sự vận động khúc triết của dòng ngữ lưu. ~ Trọng âm lôgic và ngữ pháp: Làm cho lời nói được thể hiện nội dung một cách chính xác bằng sự nhấn mạnh về phát âm trong lời nói.
~ Âm sắc của lời nói thể hiện tình cảm vui, buồn,. Sửa các lỗi phát âm của trẻ Ở tuổi mầm non, khi cơ quan phát âm đang ở giai đoạn hoàn thiện thì các lỗi phát âm ở trẻ là đương nhiên. Cô cần xác định được các lỗi đó để sửa cho trẻ. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHUẨN MỰC NGỮ ÂM 1.
Giai đoạn 1: Trẻ từ 1,5 đến 3 tuổi — Đặc điểm: Trẻ lứa tuổi này phát triển nhanh chóng, khả năng hiểu lời nói, vốn từ tăng nhanh, cấu trúc từ hoàn thiện. Chúng dễ dàng bắt chước các kết hợp âm thanh, các câu ngắn (năm thứ hai trẻ sử dụng các câu có 2 - 3 từ và hơn nữa). Mặt âm thanh ngôn ngữ được phát triển mạnh: cơ quan phát âm hoàn thiện một bước (hai hàm răng hình thành, đã điều khiển được môi, lưỡi.) tạo điều kiện phát âm được; trỉ giác nghe tốt hơn cũng có tác động tốt đến khả năng phát âm. — Nhiệm vụ chính của giai đoạn này: bằng con đường giao tiếp thường xuyên, có hệ thống của trẻ với người lớn chú ý phát triển tri giác nghe, củng cố và phát triển các bộ phận của cơ quan phát âm.
— Cho trẻ bắt chước trước hết là những âm thanh đơn giản (các nguyên âm don: a, 6, 0, ø; các phụ âm môi - mdi: b, m, p; phụ âm môi - răng: ph, v. Dần dần, đối với trẻ sau 2 tuổi, cần đưa ra các âm khó phát âm hơn: các âm: tr, | s. không nhất thiết 3 tuổi phải phát âm đúng ngay các âm đó; chỉ đến 5-6 | tuổi thì các âm này mới được trẻ phát âm chính xác (trong các tiết học có hệ thống). 92 — Dựa vào sự bắt chước của trẻ cho chúng phát âm các âm vị trong các kết hợp khác nhau.
Ví dụ: Bà bế bé (âm vị: Ð); mẹ thơm bé nhé! (âm vị: e),. Điều này giúp cho trẻ phát âm rõ nét các âm vị, cũng chính là luyén khả năng nghe âm vị và phát âm các âm vị đó. — Cho trẻ nhắc đi nhắc lại các âm vị sẽ tạo thành các mẫu, từ đó rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo phát âm, cấu tạo âm của trẻ.