Chương 1I do PGS. Nguyễn Quang Dong biên soạn Chương IV, do GV. Ngô Văn Thứ biên soạn GV. Ngô Văn Thứ chịu trách nhiệm sửa đổi uà bổ sung trong lần xuất bản này.
Mặc dù giáo trình đã kế thừa nhiều tại liệu, cũng như đã được thử nghiệm trên nhiều đối tượng, ngành học, chúng tôi cho rằng giáo trình uẫn không thể tránh được những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong nhận được sự quan tâm của các đồng nghiệp cũng như tất cả các bạn đọc, nhằm tạo điều kiện cho giáo trừnh ngày càng hoàn thiện hơn. Hà nội - 3005 Các tác giả EBOOKBKMI.COM Tìm kiếm tải liệu miễn phí Chương T GIỚI THIỆU MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ 1. Ý NGHĨA VÀ KHÁI NIỆM CỦA MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ TRONG NGHIÊN CUU, PHAN TICH KINH Tf 1.
Ý nghĩa của phương pháp mô hình Đã từ lâu, khi con người muốn tìm hiểu, khám phá những hiện tượng trong tự nhiên, họ đã biết quan sát, theo đõi và ghi nhận các hiện tượng này. Kết quả theo dõi được đúc kết thành kinh nghiệm và được lưu truyền qua các thế hệ. Đó là phương pháp trực tiếp quan sát trong nghiên cứu. Đối với các sự vật, hiện tượng phức tạp hơn hoặc khi chúng ta chẳng những muốn tìm hiểu các hiện tượng mà còn muốn lợi dụng chúng phục vụ cho hoạt động của mình thì phương pháp quan sát là chưa đủ.
Trong trường hợp này, khi nghiên cứu các đối tượng, các nhà khoa học hoặc là trực tiếp tác động vào đối tượng, hoặc sử dụng các mô hình tương tự (vẻ mặt cấu trúc vật lý) như đối tượng, tiến hành thí nghiệm, trực tiếp tác động vào đối tượng cần nghiên cứu, phân tích kết quả để xác lập quy luật chỉ phối sự vận động của đối tượng. Đó là phương pháp thí nghiệm, thử nghiệm có kiểm soái và là phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Khi nghiên cứu các hiện tượng. vấn đẻ kính tế - xã hội.
các phương pháp trên thường không đem lại kết quả như mong muốn, bởi vì: - Nhiing van dé kinh té vén dĩ là những vấn đẻ hết sức phức tạp - đặc biệt là những vấn dé đương đại - trong đó có nhiều mối liên hệ đan xen, thậm chí tiểm ẩn mà chúng ta không thể chỉ bằng quan sát là có thể giải thích được. ~ Qui mô, phạm vi liên quan của những vấn để kinh tế - xã hội nhiều khi rất rộng và đa dạng, vì vậy khi dùng phương pháp thử nghiệm sẽ đòi hỏi chi phí rất lớn về thời gian, tiền bạc và nhiễu khi những sai sót trong quá trình thử nghiệm sẽ gây ra hậu quả không thể lường trước được. - Ngay cả trong trường hợp có đủ điều kiện tiến hành các thử nghiệm trong nghiên cứu kinh tế thì kết quả thu được cũng kém tin cậy vì các hiện tượng kinh tế - xã hội đều gắn với hoạt động của con người. Khi điều kiện thực tế khác biệt với điều kiện thử nghiệm, con người-có phản ứng khác hẳn nhau.
Để nghiên cứu các hiện tượng, vấn để kinh tế chúng ta phải sử dụng phương pháp suy luận gián tiếp, trong đó các đối tượng trong hiện thực có liên quan tới hiện tượng, vấn đề ta quan tâm nghiên cứu sẽ được thay thế bởi “hình ảnh” của chúng: các Mô hình của đối tượng và ta sử dụng mô hình làm công cụ phân tích và suy luận. Phương pháp này có tên gọi là phương pháp mô hình. Nội dung cơ bản của phương pháp mô hình bao gồm: - Xây dựng, xác định mô hình của đối tượng. Quá trình này gọi là mô hình hoá đối tượng.
~ Dùng mô hình làm công cụ suy luận phục vụ yêu cầu nghiên cứu. Quá trình này gọi là phân tích mô hình. Phương pháp mô hình khắc phục được hạn chế của các phương pháp trên; đồng thời với việc phân tích mô hình. phương pháp tạo khả năng phát huy tốt hiệu quả của tư duy lôgíc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phân tích truyền thống với hiện đại.
giữa phân tích định tính với phân tích định lượng Để có thể sử dụng có hiệu quả phương pháp mô bình hoá trong nghiên cứu kinh tế vấn đề cốt lõi là xác lập được mô hình của đối tượng nghiên cứu. Để hiểu rõ quá trình này chúng ta cần đề cập Lới một số khái niệm cơ bản có liên quan. Khái niệm Mô hinh kinh tế và Mô hình toán kinh tế a. Mô hình bình tế Có rất nhiều quan niệm về mô hình của đối tượng, từ hình thức đơn giản, trực quan đến hình thức kbái quát, có sử dụng các khái niệm toán học trừu tượng.
Với yêu cầu b- ước đầu làm quen với phương pháp mô hình, chúng ta sẽ để cập tới quan điểm khá đơn giản về mô hình. Theo quan điểm này thì: mô hình của một đối tượng là sự phản ánh hiện thực khách quan của đối tượng; sự hình dung, tưởng tượng đối tượng đó bằng ý nghĩ của người nghiên cứu và việc trình bày, thể hiện, diễn đạt ý nghĩ đó bằng lời văn, chữ viết, sơ đổ, hĩnh vẽ. hoặc một ngôn ngữ chuyên ngành. Như vậy mỗi mô hình bao gồm nội dung của mô hình và hình thức thể hiện nội dung.
Mô hình của các đối tượng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế gợi là mô hình hình tế. Mô hình toán kinh tế Mê hình toán kinh tế là mô hình kinh tế được trình bày bằng ngôn ngữ toán học. Việc sử dụng ngôn ngữ toán học tạo GIÁO TRÌNH MÔ HỈNH TOẤN KINH-TẾ, khả năng áp dụng các phương pháp suy luận, phân tích toán học và kế thừa các thành tựu trong lĩnh vực này cũng như trong các lĩnh vực khoa học có liên quan. Đối với các vấn đề phức tạp có nhiều mối liên hệ đan xen thậm chí tiém ẩn mà chúng ta cần nghiên cứu, phân tích chẳng những về mặt định tính mà cả mặt định lượng thì phương pháp suy luận thông thường.
phân tích giản đơn:-không đủ hiệu lực để giải quyết. Chúng ta cần đến phương pháp suy luận toán học. Đây chính là điểm mạnh của các mổ hình toán kinh tế. Chúng ta có thể thấy rõ hơn thông qua thí dụ sau: Thí dụ 1.1: Giả sử chúng ta muốn nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành giá cả của một loại hàng hoá À trên thị trường và giả định các yếu tố khác như điều kiện sản xuất hàng hoá A, thu nhập, sở thích của người tiêu ding.
đã cho trước và không thay đổi. Đối tượng liên quan tới vấn để nghiên cứu của chúng ta là thị trường hàng hoá A và sự vận hành của nó. Chúng ta cần mô hình hàng hoá đối tượng này. + M6 hinh bang lời: Xét thị trường hàng hoá A, nơi đồ người bán, người mua gặp nhau và xuất hiệ mức giá ban đầu.
Với mức giá đó, lượng hàng hoá người bán muốn bán gợi là mức cung và lượng hàng hoá người mua muến mua gọi là mức cầu. Nếu cung lớn hơn câu, do người bán muốn bán được nhiều hàng hơn nên phải giảm giá vì vậy hình thành mức giá mới thấp hơn. Nếu cầu lớn hơn cung thì người mua sẵn sàng trả giá cao hơn để mua được hàng do vậy một mức giá cao hơn được hình thành. Với mức giá mới.
xuất hiện mức cung. Quá trình tiếp diễn đến khi cung bằng cầu ở một mức giá gọi là giá cân bằng. +Mô hình bằng hình uẽ: Từ những điều mô tả bằng lời trong mô hình trên ta sẽ thể hiện bằng hình vẽ. Vẽ đường cung S và đường cầu D trên cùng hệ trục toạ độ trong đó trục hoành biểu thị các mức giá, trục tung biểu thị mức cung, mức cầu hàng hoá ứng với các mức giá.
Quá trình hình thành giá cân bằng được thể hiện qua sơ đề minh hoạ dưới đây (còn gọi là mô hình mạng nhện): DS P2 Pp Ps Pi Hinh 1 Giải thích sơ đồ: Nếu ở thời điểm bắt đầu xem xét thị thị trường, giá hàng là p, va gia su S, = S(p,) > D, = D(p,) khi dé dudi tác động của quy luật cung - cầu. giá p sẽ phải hạ xuống mức p;. Ở mức giá p; do S; = S(p;) < D; = D(p;) nên giá sẽ tăng lên mức p;. Ở mức giá p, do S, = S(p,) > Dy = D;(p,) nên giá sẽ giảm xuống mức p,.
Quá trình cứ tiếp diễn cho đến khi p = p, tại mức giá này có cân bằng cung - cầu. + Mô hình toán kính tế Goi 5, D là đường cùng, đường cầu tương ứng. Như vậy ứng với từng mức giá p ta có: 3 = S(p), do người bán sẵn sàng bán với mức giá cao hơn nên 8 là hàm tăng theo b, tức là S(p)= : >0; D= D@), do người mua sẽ mua ít hơn nếu ip giá cao hơn nên D là hàm giảm theo p, tức là D'(p)= = <0. P Tình huống cân bằng thị trường (mức cung bằng mức cầu) sẽ có nếu: 8 = D.
Viết gọn lại ta sẽ có mô hình cân bằng thị trường, ký hiệu là MHIA dưới đây: $= S@); S'@) = So. dp Với mô hình diễn đạt bằng lời hoặc bằng hình vẽ ta không thể biết chắc rằng liệu quá trình hình thành giá trên thị trường có kết thúc hay không, tức là liệu có cân bằng thị trường hay không. Đối với mô hình toán kinh tế về cân bằng thị trường, ta sẽ có câu trả lời thông qua việc giải phương trình 8 = D và phân tích đặc điểm của nghiệm. Khi muốn đề cập tối các tác động của thu nhập (M), thuế ŒT).tới quá trình hình thành giá, ta có thể mở rộng mô hình- bằng cách đưa các yếu tố này tham gia vào các mối liên hệ với các yếu tố sẵn có trong mô hình phù hợp với các quy luật trong ly thuyét kinh tế, chang han:S = Sp, T), D = D@, M, T).
Ký hiệu mô hình này là MHIB, mô hình có dạng: S=S@, TD; ôS/ôP > 0. CẤU TRÚC MÔ HÌNH TOÁN KINH TẾ Cùng là sản phẩm của quá trình mô hình hoá nhưng mô hình toán kinh tế có những điểm khác biệt so với các loại mô hình khác. Quan sát mô hình MHIA trong thí dụ 1.1 chúng ta có thể thấy rõ điểu này. Mô hình chứa một số yếu tố mang tính định lượng (S, D, p, 8', D) và các hệ thức toán học liên hệ giữa chúng (các phương trình và bất phương trình).
Đây là đặc trưng cơ bản, là hình thức kết cấu của mô hình toán kinh tế, do đó ta có thể dùng đặc trưng này để hình dung một cách cụ thể hơn về mô hình toán kinh tế so với khái niệm đã được giới thiệu ở mục trước.