Giáo trình luật người khuyết tật việt nam trường đại học luật hà nội nguyễn hữu chí chủ biên đỗ ngân bình

Giáo trình Luật Người Khuyết Tật Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên Nguyễn Hữu Chí và Đỗ Ngân Bình, cung cấp kiến thức pháp lý chuyên sâu về quyền và chính sách h...

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Người Khuyết Tật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

giáo trình

2011

353
10
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG I: KHAI QUÁT VỀ LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT VIỆT NAM

1.1. KHAI NIỆM NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1.1. Khái niệm người khuyết tật

1.1.2. Định nghĩa người khuyết tật

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Giáo trình Luật Người Khuyết Tật Việt Nam

Giáo trình Luật Người Khuyết Tật Việt Nam là một tài liệu học tập và nghiên cứu quan trọng được biên soạn bởi Trường Đại Học Luật Hà Nội với sự hỗ trợ của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Giáo trình này nhằm cung cấp kiến thức toàn diện về Luật Người Khuyết Tật Việt Nam, một lĩnh vực pháp luật mới và đang phát triển. Tác giả chính của giáo trình là PGS. Nguyễn Hữu ChíĐỗ Ngân Bình, cùng với sự đóng góp của nhiều chuyên gia khác. Giáo trình được xuất bản lần đầu vào năm 2011, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc đưa môn học này vào chương trình đào tạo cử nhân luật tại Việt Nam.

1.1. Mục tiêu và ý nghĩa của giáo trình

Giáo trình được biên soạn với mục tiêu cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên, và các nhà nghiên cứu pháp luật. Nó tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật liên quan đến quyền người khuyết tật, chính sách hỗ trợ, và bảo vệ người khuyết tật tại Việt Nam. Giáo trình cũng nhấn mạnh sự thay đổi trong nhận thức và hành động của Nhà nước Việt Nam về vấn đề này, từ góc độ phúc lợi xã hội sang quyền con người. Đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết về Luật Người Khuyết Tật Việt Nam trong cộng đồng học thuật và xã hội.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính

Giáo trình được chia thành nhiều chương, mỗi chương tập trung vào một khía cạnh cụ thể của Luật Người Khuyết Tật Việt Nam. Chương đầu tiên giới thiệu tổng quan về khái niệm người khuyết tật và sự phát triển của pháp luật liên quan. Các chương tiếp theo đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật cụ thể, bao gồm quyền người khuyết tật, chính sách hỗ trợ, và các biện pháp bảo vệ. Giáo trình cũng cung cấp các ví dụ thực tiễn và phân tích so sánh với pháp luật quốc tế, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề này.

II. Khái niệm và quan điểm về người khuyết tật

Giáo trình phân tích sâu về khái niệm người khuyết tật và các quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này. Hai quan điểm chính được đề cập là quan điểm khuyết tật cá nhân (y tế) và quan điểm khuyết tật xã hội. Quan điểm y tế tập trung vào sự khiếm khuyết của cá nhân và các biện pháp chữa trị, trong khi quan điểm xã hội nhấn mạnh vai trò của môi trường và xã hội trong việc tạo ra các rào cản cho người khuyết tật. Giáo trình cũng phân tích sự phát triển của các quan điểm này trong lịch sử và ảnh hưởng của chúng đến chính sách và pháp luật hiện đại.

2.1. Quan điểm khuyết tật cá nhân

Quan điểm này cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, tập trung vào việc chữa trị và phục hồi chức năng. Nó nhìn nhận người khuyết tật như những người có vấn đề về thể chất và cần được hỗ trợ y tế. Tuy nhiên, quan điểm này bị chỉ trích vì đặt người khuyết tật vào vị thế bị động và không xem xét đến các yếu tố môi trường xã hội.

2.2. Quan điểm khuyết tật xã hội

Quan điểm xã hội coi khuyết tật là kết quả của sự loại trừ và phân biệt đối xử trong xã hội. Nó nhấn mạnh việc thay đổi môi trường và chính sách để tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập. Quan điểm này được coi là tiến bộ hơn, vì nó tập trung vào quyền và năng lực của người khuyết tật, thay vì chỉ nhìn nhận họ như đối tượng cần hỗ trợ.

III. Pháp luật và chính sách hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam

Giáo trình cung cấp cái nhìn toàn diện về pháp luật Việt Nam liên quan đến người khuyết tật, bao gồm các quy định về quyền người khuyết tật, chính sách hỗ trợ, và bảo vệ người khuyết tật. Nó phân tích các văn bản pháp luật quan trọng như Luật Người Khuyết Tật năm 2010 và các chính sách liên quan. Giáo trình cũng đánh giá hiệu quả của các quy định này trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp để cải thiện.

3.1. Quyền người khuyết tật

Giáo trình nhấn mạnh các quyền cơ bản của người khuyết tật, bao gồm quyền được giáo dục, lao động, và tham gia vào các hoạt động xã hội. Nó phân tích các quy định pháp luật đảm bảo các quyền này và thực trạng thực hiện tại Việt Nam.

3.2. Chính sách hỗ trợ và bảo vệ

Giáo trình cung cấp cái nhìn chi tiết về các chính sách hỗ trợ người khuyết tật, bao gồm các chương trình phục hồi chức năng, hỗ trợ việc làm, và giáo dục hòa nhập. Nó cũng phân tích các biện pháp bảo vệ người khuyết tật khỏi sự phân biệt đối xử và bạo lực.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH LUẬT NGƯỞI KHUYẾT TAT VIỆT NAM 1054-2011/CXB/10-51/CAND TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giáo trình LUẬT NGƯỜI KHUYET TAT VIỆT NAM SÁCH ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI ILO NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI - 2011 Chu bién PGS. NGUYEN HUU CHI Tap thé tac gia. DO NGAN BINH Chuong VII. NGUYEN HỮU CHI Chuong I N+CnKoY2O.

ĐỒ THỊ DUNG Chuong III. ĐÀO THI HANG Chuong V. TRAN THỊ THUY LAM Chuong IV. HOANG THI MINH Chương II.

NGUYEN HIEN PHƯƠNG Chương VỊ. NGUYEN XUAN THU Chương VIII LỜI NÓI ĐẦU Với tư cách là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sông xã hội, người khuyết tật có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, do những khiếm khuyết không mong muốn về cơ thê mà người khuyết tật gặp phải nhiều trở ngại, khó khăn trong việc hoà nhập cộng đồng, cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Cùng với sự thay đối của cộng đồng quốc tế, Nhà nước Việt Nam đã có sự đôi mới trong nhận thức và hành động về vấn đề này.

Được sự hỗ trợ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Trường Dai học Luật Ha Nội đã đưa môn học luật người khuyết tật Việt Nam vào chương trình giảng dạy cử nhân luật. Dé cung cap học liệu phục vu cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy môn học này, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên soạn giáo trình luật người khuyết tật Việt Nam. Song, là một lĩnh vực khoa học mới và đây là giáo trình lần đầu tiên được xuất bản trong phạm vi các cơ sở đào tạo luật trên cả nước nên khó tránh khỏi sự khiếm khuyết, hạn chế. Trường Đại học Luật Hà Nội rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản tiếp theo.

Nhân dip này, tập thé tác giả xin trân trọng gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu; các thành viên thực hiện Dự án đưa môn học “Luật người khuyết tật Việt Nam” vào chương trình đào tạo đại học; những phòng, ban liên quan của Trường Đại học Luật Hà Nội và các anh, chị: Phạm Thị Cam Lý - Tổ chức lao động quốc tế (ILO); Trần Trung Hiếu - Phó chủ tịch Hội người mù Hà Nội (HBA); Nguyễn Trung - Trưởng ban kiểm tra, Hội người khuyết tật Hà Nội (DPO); Trịnh Công Thanh - Chủ tịch Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội (HYDA) đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành giáo trình này. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI CHUONG I KHAI QUAT VE LUAT NGUOI KHUYET TAT VIET NAM 1. KHAI NIEM NGUOI KHUYET TAT VA LUAT NGUOI KHUYET TAT 1. Khái niệm người khuyết tật 1.

Định nghĩa người khuyết tật Trong thé ki trước, người ta đã chứng kiến cuộc cách mang lớn về van đề người khuyết tật, qua đó thay đôi cách dé cập, nhìn nhận, tương tác và hỗ trợ đối với họ. Từ mô hình "chăm sóc y tế" của những năm 50, trong suốt thời gian dài vẫn đề người khuyết tật được xem là van dé phúc lợi xã hội, theo đó quan niệm phô biến là người khuyết tật cần được hỗ trợ, chăm sóc và họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc sống của mình. Nói cách khác, người khuyết tật bi coi là các đối tượng của phúc lợi xã hội mà không phải là chủ thể có quyền như công dân bình thường. Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người được các nước phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 (vi du: Tuyên ngôn toàn thế giới của Liên hợp quốc về quyền con người năm 1948, 7 Công ước của Liên hợp quốc về quyền kinh tế, văn hoá, xã hội năm 1966 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966.) đều không đề cập trực tiếp đến người khuyết tật.” Đến năm 1970, xuất phat từ Hoa Kỳ - bằng nhiều hình thức khác nhau, người khuyết tật và các hiệp hội của họ đã minh chứng rằng họ hoàn toàn có khả năng, có quyền được sông và lao động như những người bình thường.

Sự nỗ lực bền bỉ của họ cùng với sự thay đổi về nhận thức trong xã hội đã dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ về chính sách và pháp luật của Hoa Kỳ về người khuyết tật. Đến những năm 1980, những quan niệm nhân quyền tiến bộ của Hoa Kỳ về người khuyết tật được phổ biến ở nhiều nước như Thụy Điển, Nhật Bản, Brazil. và gần đây là Hàn Quốc, Thái Lan. Tư tưởng cốt lõi của nhận thức mới này là các vấn đề về người khuyết tật được xem xét đưới góc độ quyền con người, dựa trên quan điểm tat cả mọi người đều có quyền được sống cuộc sống đây đủ và có phẩm giá đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948.” Tuy nhiên, quá trình chuyên nhận thức về người khuyết tật như vấn đề phúc lợi xã hội sang nhận thức coi vấn đề khuyết tật là vấn đề bình thường trong xã (1).Xem: Tài liệu hướng dẫn: Nướng tới cơ hội việc làm bình dang cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, Tô chức lao động quốc tế (ILO), năm 2006, tr.

Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người tuyên bố: “Tat cả mọi người sinh ra đêu bình đẳng về nhân phẩm và quyên. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lí trí và lương tâm và cần đối xử với nhau trong tình bằng hữu ”. 8 hội và coi trọng khả năng, năng lực của người khuyết tật đã diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và không phải đã hết sự khác biệt. Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyết tật.

Hiện có hai quan điểm chính: Quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hoi. - Quan điểm khuyết tật cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật đưới góc độ y tế (y học): Cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít hoặc không dé ý đến các yêu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật. Quan niệm này cho răng người khuyết tật có thê hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuôc điêu tri và các công nghệ cải thiện chức năng. Cũng có quan điểm tôn giáo về khuyết tật {nghiên cứu ở Hoa Kỳ).

Theo quan điểm này, khuyết tật là vấn đề đôi khi xuất phát từ sự trừng phạt nhưng đôi khi lại được coi như sự ban phước. Quan điểm tôn giáo này gần giong với tư tưởng Phật giáo về khuyết tật của phương Đông, ví dụ: lí giải khuyết tật là sai lầm của tô tiên, do đó người khuyết tật bị giấu giếm vì họ xấu hồ với các gia đình khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp lại được nhìn nhận là siêu pham và được các thành viên trong gia đình dum bọc, coi trọng quá mức (Xem: Bộ giáo dục và đào tạo, Quản lí giáo dục hoà nhập, Nxb. Hoặc quan điểm theo mô hình từ thiện.

Quan niệm này nhìn nhận người khuyết tật như những nạn nhân của việc suy giảm chức năng, không có khả năng thực hiện bat cứ điều gì. Họ là những nạn nhân, thụ động, bắt lực. Khuyết tật là vấn đề sức khoẻ của cá nhân, họ khác người thường, vì vậy họ cần những dịch vụ đặc biệt và những tô chức đặc biệt giúp đỡ (Xem: M6 hình khuyết tật và chính sách, Tài liệu dành cho tập huấn viên người khuyết tật do sự tài trợ của Tổ chức hợp tác kĩ thuật Đức (GTZ) và Cơ quan hỗ trợ phát triển Đức, 2010, tr. hình y tế chú trọng vào việc tri liệu cá nhân chứ không xem trọng việc tri liệu xã hội.

Nhu vay, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật là van đề và đưa ra giải pháp dé làm người đó “bình thường”. Mô hình y tế đưa đến việc cung cấp giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lí trị liệu. Nó cũng có thé dẫn đến việc chọn lọc khả năng sinh tồn, ngăn trẻ sơ sinh khuyết tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ bình thường sinh ra nó.) Lí giải rõ thêm cho quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mat mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc (và) sinh lí.

Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Như vậy, mô hình cá nhân (cá thể) hay y tế nhìn nhận người khuyết tật như những người có vẫn đề về thể chất và cần phải chữa trị. Điều này đã day những người khuyết tật vào thé bị động của người bệnh.

Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho những người khuyết tật cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình trung lại khiến cho những người khuyết (1).Xem: Bộ giáo dục và đào tạo, Quản lí giáo đục hoà nhập, Nxb. 10 tật cảm thấy họ không bình thường. Theo đó, vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân. Khi bị khuyết tật, những người nay cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh phải thay đồi." - Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nôi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng pho biến nhất.

Mô hình xã hội là mô hình có co sở lí thuyết và có quy tắc riêng, được coi là nền tảng của những biến chuyển của van đề người khuyết tật. Trong mô hình xã hội, khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Bởi vì xã hội được tô chức không tốt nên những người khuyết tật phải đối mặt với một số phân biệt đối xử như: I)Thái độ: thé hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểu biết và ít kì vọng (ảnh hưởng bởi văn hoá và tín ngưỡng); 2) Môi trường: Dẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống (trường học, cửa hàng, toà nhà công cộng, giao thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giáo trình Luật Người Khuyết Tật Việt Nam - Đại Học Luật Hà Nội - Nguyễn Hữu Chí & Đỗ Ngân Bình là một tài liệu chuyên sâu, cung cấp cái nhìn toàn diện về hệ thống pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích của người khuyết tật tại Việt Nam. Cuốn sách không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn đưa ra những giải pháp thực tiễn để bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm đối tượng này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho sinh viên, nhà nghiên cứu, và những người làm việc trong lĩnh vực pháp luật và xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý khác, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đăng ký kết hôn thực tiễn tại uỷ ban nhân dân phường thanh vinh thị xã phú thọ tỉnh phú thọ, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hiểm thai sản và thực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn la, hoặc Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật việt nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh pháp lý khác trong hệ thống luật pháp Việt Nam.