GIÁO TRÌNH LUẬT NGƯỞI KHUYẾT TAT VIỆT NAM 1054-2011/CXB/10-51/CAND TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giáo trình LUẬT NGƯỜI KHUYET TAT VIỆT NAM SÁCH ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI ILO NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI - 2011 Chu bién PGS. NGUYEN HUU CHI Tap thé tac gia. DO NGAN BINH Chuong VII. NGUYEN HỮU CHI Chuong I N+CnKoY2O.
ĐỒ THỊ DUNG Chuong III. ĐÀO THI HANG Chuong V. TRAN THỊ THUY LAM Chuong IV. HOANG THI MINH Chương II.
NGUYEN HIEN PHƯƠNG Chương VỊ. NGUYEN XUAN THU Chương VIII LỜI NÓI ĐẦU Với tư cách là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sông xã hội, người khuyết tật có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, do những khiếm khuyết không mong muốn về cơ thê mà người khuyết tật gặp phải nhiều trở ngại, khó khăn trong việc hoà nhập cộng đồng, cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Cùng với sự thay đối của cộng đồng quốc tế, Nhà nước Việt Nam đã có sự đôi mới trong nhận thức và hành động về vấn đề này.
Được sự hỗ trợ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Trường Dai học Luật Ha Nội đã đưa môn học luật người khuyết tật Việt Nam vào chương trình giảng dạy cử nhân luật. Dé cung cap học liệu phục vu cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy môn học này, Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên soạn giáo trình luật người khuyết tật Việt Nam. Song, là một lĩnh vực khoa học mới và đây là giáo trình lần đầu tiên được xuất bản trong phạm vi các cơ sở đào tạo luật trên cả nước nên khó tránh khỏi sự khiếm khuyết, hạn chế. Trường Đại học Luật Hà Nội rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản tiếp theo.
Nhân dip này, tập thé tác giả xin trân trọng gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu; các thành viên thực hiện Dự án đưa môn học “Luật người khuyết tật Việt Nam” vào chương trình đào tạo đại học; những phòng, ban liên quan của Trường Đại học Luật Hà Nội và các anh, chị: Phạm Thị Cam Lý - Tổ chức lao động quốc tế (ILO); Trần Trung Hiếu - Phó chủ tịch Hội người mù Hà Nội (HBA); Nguyễn Trung - Trưởng ban kiểm tra, Hội người khuyết tật Hà Nội (DPO); Trịnh Công Thanh - Chủ tịch Hội thanh niên khuyết tật Hà Nội (HYDA) đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành giáo trình này. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI CHUONG I KHAI QUAT VE LUAT NGUOI KHUYET TAT VIET NAM 1. KHAI NIEM NGUOI KHUYET TAT VA LUAT NGUOI KHUYET TAT 1. Khái niệm người khuyết tật 1.
Định nghĩa người khuyết tật Trong thé ki trước, người ta đã chứng kiến cuộc cách mang lớn về van đề người khuyết tật, qua đó thay đôi cách dé cập, nhìn nhận, tương tác và hỗ trợ đối với họ. Từ mô hình "chăm sóc y tế" của những năm 50, trong suốt thời gian dài vẫn đề người khuyết tật được xem là van dé phúc lợi xã hội, theo đó quan niệm phô biến là người khuyết tật cần được hỗ trợ, chăm sóc và họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc sống của mình. Nói cách khác, người khuyết tật bi coi là các đối tượng của phúc lợi xã hội mà không phải là chủ thể có quyền như công dân bình thường. Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người được các nước phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 (vi du: Tuyên ngôn toàn thế giới của Liên hợp quốc về quyền con người năm 1948, 7 Công ước của Liên hợp quốc về quyền kinh tế, văn hoá, xã hội năm 1966 và Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966.) đều không đề cập trực tiếp đến người khuyết tật.” Đến năm 1970, xuất phat từ Hoa Kỳ - bằng nhiều hình thức khác nhau, người khuyết tật và các hiệp hội của họ đã minh chứng rằng họ hoàn toàn có khả năng, có quyền được sông và lao động như những người bình thường.
Sự nỗ lực bền bỉ của họ cùng với sự thay đổi về nhận thức trong xã hội đã dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ về chính sách và pháp luật của Hoa Kỳ về người khuyết tật. Đến những năm 1980, những quan niệm nhân quyền tiến bộ của Hoa Kỳ về người khuyết tật được phổ biến ở nhiều nước như Thụy Điển, Nhật Bản, Brazil. và gần đây là Hàn Quốc, Thái Lan. Tư tưởng cốt lõi của nhận thức mới này là các vấn đề về người khuyết tật được xem xét đưới góc độ quyền con người, dựa trên quan điểm tat cả mọi người đều có quyền được sống cuộc sống đây đủ và có phẩm giá đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948.” Tuy nhiên, quá trình chuyên nhận thức về người khuyết tật như vấn đề phúc lợi xã hội sang nhận thức coi vấn đề khuyết tật là vấn đề bình thường trong xã (1).Xem: Tài liệu hướng dẫn: Nướng tới cơ hội việc làm bình dang cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, Tô chức lao động quốc tế (ILO), năm 2006, tr.
Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người tuyên bố: “Tat cả mọi người sinh ra đêu bình đẳng về nhân phẩm và quyên. Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lí trí và lương tâm và cần đối xử với nhau trong tình bằng hữu ”. 8 hội và coi trọng khả năng, năng lực của người khuyết tật đã diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và không phải đã hết sự khác biệt. Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyết tật.
Hiện có hai quan điểm chính: Quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hoi. - Quan điểm khuyết tật cá nhân (cá thể) hay quan điểm khuyết tật đưới góc độ y tế (y học): Cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó, chú trọng rất ít hoặc không dé ý đến các yêu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người khuyết tật. Quan niệm này cho răng người khuyết tật có thê hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuôc điêu tri và các công nghệ cải thiện chức năng. Cũng có quan điểm tôn giáo về khuyết tật {nghiên cứu ở Hoa Kỳ).
Theo quan điểm này, khuyết tật là vấn đề đôi khi xuất phát từ sự trừng phạt nhưng đôi khi lại được coi như sự ban phước. Quan điểm tôn giáo này gần giong với tư tưởng Phật giáo về khuyết tật của phương Đông, ví dụ: lí giải khuyết tật là sai lầm của tô tiên, do đó người khuyết tật bị giấu giếm vì họ xấu hồ với các gia đình khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp lại được nhìn nhận là siêu pham và được các thành viên trong gia đình dum bọc, coi trọng quá mức (Xem: Bộ giáo dục và đào tạo, Quản lí giáo dục hoà nhập, Nxb. Hoặc quan điểm theo mô hình từ thiện.
Quan niệm này nhìn nhận người khuyết tật như những nạn nhân của việc suy giảm chức năng, không có khả năng thực hiện bat cứ điều gì. Họ là những nạn nhân, thụ động, bắt lực. Khuyết tật là vấn đề sức khoẻ của cá nhân, họ khác người thường, vì vậy họ cần những dịch vụ đặc biệt và những tô chức đặc biệt giúp đỡ (Xem: M6 hình khuyết tật và chính sách, Tài liệu dành cho tập huấn viên người khuyết tật do sự tài trợ của Tổ chức hợp tác kĩ thuật Đức (GTZ) và Cơ quan hỗ trợ phát triển Đức, 2010, tr. hình y tế chú trọng vào việc tri liệu cá nhân chứ không xem trọng việc tri liệu xã hội.
Nhu vay, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật là van đề và đưa ra giải pháp dé làm người đó “bình thường”. Mô hình y tế đưa đến việc cung cấp giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lí trị liệu. Nó cũng có thé dẫn đến việc chọn lọc khả năng sinh tồn, ngăn trẻ sơ sinh khuyết tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ bình thường sinh ra nó.) Lí giải rõ thêm cho quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mat mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc (và) sinh lí.
Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Như vậy, mô hình cá nhân (cá thể) hay y tế nhìn nhận người khuyết tật như những người có vẫn đề về thể chất và cần phải chữa trị. Điều này đã day những người khuyết tật vào thé bị động của người bệnh.
Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho những người khuyết tật cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình trung lại khiến cho những người khuyết (1).Xem: Bộ giáo dục và đào tạo, Quản lí giáo đục hoà nhập, Nxb. 10 tật cảm thấy họ không bình thường. Theo đó, vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân. Khi bị khuyết tật, những người nay cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh phải thay đồi." - Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nôi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng pho biến nhất.
Mô hình xã hội là mô hình có co sở lí thuyết và có quy tắc riêng, được coi là nền tảng của những biến chuyển của van đề người khuyết tật. Trong mô hình xã hội, khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Bởi vì xã hội được tô chức không tốt nên những người khuyết tật phải đối mặt với một số phân biệt đối xử như: I)Thái độ: thé hiện sự sợ hãi, sự thiếu hiểu biết và ít kì vọng (ảnh hưởng bởi văn hoá và tín ngưỡng); 2) Môi trường: Dẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống (trường học, cửa hàng, toà nhà công cộng, giao thông.