Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VE LUAT BIEN QUOC TE Lí luận chung về Luật bién quốc tế dé cập tới vai trò của biển cả trong lịch sử phát triển của nhân loại và sự cần thiết phải xác lập trật tự pháp lí trên biển nhằm đảm bảo lợi ích của mỗi quốc gia cũng như lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên, quá trình khám phá, chinh phục và đấu tranh giữa các quốc gia. Luật biển quốc tế bao gồm các nguyên tắc và quy phạm được thê hiện thông qua nguồn của Luật biển quốc tế. Các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế là co sở để xác định các vùng biển và quy chế pháp lí của chúng; điều chỉnh quá trình khai thác, sử dụng, quản lí biển cả và đại dương.
KHÁI NIỆM LUẬT BIEN QUOC TẾ 1. Định nghĩa Trái đất có 71% là biển cả (khoảng 362 triệu km”). Thái Bình Dương là đại đương lớn nhất, nằm giữa châu Á và châu Mỹ, với diện tích 180 triệu km”, bằng diện tích của An Độ Dương và Đại Tây Dương. Toàn bộ diện tích đất liền trên thế giới có thể chứa gọn trong lòng Thái Bình Dương.
Đại Tây 9 Dương là đại dương lớn thứ hai, rộng khoảng 106 triệu km’, năm giữa châu Au, châu Phi và châu Mỹ. An Độ Dương năm ở phía nam An Độ, với diện tích khoảng 75 triệu km’. Biển cả bao gồm ba thành phan chính: - Khối nước biển, chiếm 97,3% toàn bộ lượng nước của hành tỉnh. Cột nước này chứa nhiều tài nguyên sinh vật cũng như tài nguyên không sinh vật hòa tan trong nước.
- Thém lục địa, chứa 90% trữ lượng dầu khí ngoài khơi. Thêm lục địa và đáy đại dương có tiềm năng dau khí gap hai lần so với trên đất liền. Từ cuối thé ki XX đến nay, phần lớn sản lượng dau và khí được khai thác ở thêm lục dia. - Đáy đại dương và các dãy núi đại dương, nơi chứa đựng các loại quặng đa kim như đồng, titan, sắt và mangan.
Biển chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú bên cạnh những giá trị khác như công nghiệp, giao thông, điều hòa khí hậu, hấp thụ và tiêu thụ chất thải. Biển cả là môi trường thông thương, qua bao thế kỉ các tư tưởng đã được truyền bá, con người và hàng hóa đã được vận chuyền. Biên cả gắn liền với các phát hiện lớn, hoạt động truyền đạo và các cuộc viễn chinh. Biển cả còn là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho cuộc sống của con người.
Cùng với trồng trọt, săn ban và hái lượm, nghề đánh cá biển cũng đã sớm phát triển, đóng một vai trò không thể thiếu trong hoạt động của con người, kế cả ngày nay. Nguyễn Hồng Thao (chủ biên), Công ước Luật biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 10 Biển đã đóng vai trò không thê thiếu trong sự phát triển của loài người.
Không có biển thì sẽ không có thế giới ngày nay. Biển cho phép xây dựng và phát triển những nền văn minh. Sớm bước ra biển, những nền văn minh nhân loại như Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ. đã có thể mở rộng ảnh hưởng, tác động tới sự phát triển tinh thần, dao đức va vật chất của phần lớn trái đất.
Nhờ có biển, các quốc gia có lãnh thổ đất liền không lớn, dân số không nhiều đã có thé vươn lên nam giữ các vị trí về chính trị và thương mại. Xu hướng tiến ra biển thể hiện rõ nét trong lịch sử phát triển của các quốc gia. Với sự bùng nổ về dân sé, nguồn tài nguyên trên đất liền dần cạn kiệt, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, các mối quan tâm ngày càng tăng về môi trường, an ninh - quốc phòng, biển lại càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cộng đồng quốc tế. Hướng ra biển, “làm chủ” biển và đại đương là xu thé không thé đảo ngược.
Nhằm điều hòa lợi ích của các quốc gia ở trên biển và sử dụng, khai thác biển một cách hòa bình, cần phải xây dựng một trật tự thế giới mà ở đó các nước có quyền lực, ảnh hưởng lớn cũng phải tuân thủ nguyên tắc xử sự giữa các chủ thể của quan hệ quốc tế. Đó là trật tự công băng trên cơ sở luật pháp quốc tế. Những tư tưởng về khai thác, sử dụng biển đã hình thành trong lịch sử phản ánh cuộc đấu tranh trong việc xây dựng một trật tự pháp lí trên biển; các nguyên tắc, qui phạm của Luật biển quốc tế từng bước được hoàn thiện. Đặc biệt, sau năm 1945 ' Học viện Ngoại giao, Phạm Bình Minh (chủ biên), Cục điện thé giới đến 2020, Nxb.
Chính tri quôc gia, Hà Nội, 2010, tr. II quá trình pháp điển hóa Luật biển quốc tế diễn ra mạnh mẽ với thành tựu về lập pháp là Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Luật biển quốc tế bao gồm các nguyên tắc, quy phạm do các quốc gia và các chủ thé khác của Luật biển quốc tế thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa nhận các tập quán quốc tế nhằm thiết lập quy chế pháp lí các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác, bảo vệ biển cũng như quan hệ hợp tác, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể. Luật biển quốc tế là một ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế, thể hiện bản chất và quá trình phát triển của Luật quốc tế.
Đặc điểm của Luật biển quốc tế a. Chủ thể của Luật biển quốc tế * Quốc gia Xuất phát từ việc sử dụng và khai thác biển, có thể xác định chủ thé tham gia quan hệ Luật biển quốc tế trước hết là các quốc gia. Điều 305 UNCLOS 1982 quy định: Công ước dé ngỏ cho tất cả các quốc gia tham gia. Quốc gia là chủ thể phố biến của Luật biển quốc tế.
Biển liên quan đến mọi mặt của đời sống một quốc gia. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay, biên không chỉ có giá trị về kinh tế, mà còn đặc biệt quan trọng đối với an ninh, quốc phòng và môi trường. Tat cả những lĩnh vực này đều quan hệ mật thiết đến lợi ích thiết thực và sống còn của mỗi quốc gia. Về phương diện pháp lí, các quốc gia bình dang và Luật biển quốc tế với các nguyên tắc và quy phạm pháp luật đảm 12 bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia thông qua các quy định cụ thê về nhóm quốc gia như: quốc gia có biển, quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về địa lí, quốc gia quần đảo, quốc gia đảo.
Nhóm quốc gia và mỗi quốc gia có đặc thù riêng về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, vì vậy lợi ích mà biển mang lại sẽ khác nhau. Với những quy định của Luật biển quốc tế, những khác biệt về tự nhiên không làm thay đổi tính chất bình đăng của quốc gia với tư cách là chủ thé luật quốc tế cũng như qua trình quản lí, khai thác và sử dụng biển. * Tổ chức quốc tế liên chính phủ Phù hợp với lí luận về chủ thê luật quốc tế, các tô chức quốc tế liên chính phủ được xác định là chủ thể phái sinh của Luật biển quốc tế. Cho đến đầu thế ki XX, các tổ chức quốc tế liên quan đến biển phát triển chưa nhiều, phần lớn đều hoạt động trong các lĩnh vực truyền thống như nghề cá hoặc hàng hải.
Chỉ đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai thì hàng loạt tổ chức quốc tế về biển mới hình thành, như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Tổ chức khí tượng quốc tế (WMO), Tổ chức hợp tác kinh tế biển Den (BSEC). So với thời kì trước, các tổ chức thời kì này trở nên đa dạng, phong phú. Trong số đó, nhiều tô chức đã thê hiện rõ vai trò quan trọng trong hoạt động pháp điển hóa Luật biển quốc tế như UN thông qua ba hội nghị về Luật biên. Điều 305 và Phụ lục IX UNCLOS 1982 quy định khá chi tiết về sự tham gia với tư cách thành viên UNCLOS 1982 của tô chức quốc tế liên chính phủ.
Trên cơ sở UNCLOS 1982, một số 13 tổ chức quốc tế cũng đã được thành lập và tham gia vào quá trình khai thác, sử dụng các vùng biển như Cơ quan quyền lực quản lí Vùng di sản chung (mục 4 phan XI UNCLOS 1982). Ngày nay, van đề bảo vệ biển và giải quyết tranh chấp về biển luôn là nội dung quan trọng trong hợp tác quốc tế theo khuôn khổ của luật pháp, vì vậy sự tham gia va vai trò của các tổ chức quốc tế ngày càng quan trọng. * Một số chủ thể khác Ngoài quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ, một số thực thể khác như dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, vùng lãnh thé cũng được coi là chủ thé của Luật biển quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, do tình trạng pháp lí đặc biệt, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết ít khi trực tiếp tham gia các hoạt động khai thác, sử dụng biển.
Tuy nhiên, theo quy định của Điều 305 UNCLOS 1982, dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết có thé trở thành thành thành viên của UNCLOS 1982. Ngoài ra, trong một số điều khoản khác của UNCLOS 1982 cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thê đặc biệt này. Chăng hạn, Điều 140 khoản 1 UNCLOS 1982 quy định: “Các hoạt động trong Vùng được tiến hành, như đã được ghi nhận rõ ràng trong phần này, là vì lợi ích của toàn thê loài người, không phụ thuộc vào vi trí của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển, và có lưu ý đặc biệt đến các lợi ích và nhu cầu của quốc gia đang phát triển và của các dân tộc chưa giành được nền độc lập đầy 14 đủ hay một chế độ tự trị khác được Liên hợp quốc thừa nhận theo đúng Nghị quyết 1514 (XV) và các nghị quyết tương ứng khác của Đại hội đồng”. Ngoài các chủ thé thông thường của Luật biển quốc tế là quốc gia và tổ chức quốc tế, UNCLOS 1982 có đề cập đến khái niệm “nhân loại” (mankind) trong nguyên tắc “Vùng và tài nguyên trên Vùng là di sản chung của nhân loại”.
Vậy, “nhân loại” có phải là chủ thể của Luật biển quốc tế hay không? Theo tư duy lô gíc, khái niệm này được hiểu theo hướng bao gôm tất cả các quốc gia trên bề mặt trái đất.