Giáo Trình Lịch Sử Việt Nam Từ 1954 Đến 1975

Giáo trình Lịch sử Việt Nam tập 7 (1954-1975) của Trần Bá Đệ, NXB Đại học Sư phạm 2012, cung cấp cái nhìn sâu sắc về giai đoạn lịch sử quan trọng.

Người đăng

Ẩn danh
340
15
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tình Hình Việt Nam Sau Hiệp Định Genève 1954

Sau Hiệp định Genève 1954, Việt Nam được chia thành hai vùng theo vĩ tuyến 17. Miền Bắc được giải phóng hoàn toàn khỏi quyền lực thực dân Pháp, trong khi miền Nam vẫn chịu ảnh hưởng của các thế lực phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ 1954 đến 1975, đánh dấu sự khởi đầu của hai con đường phát triển khác biệt. Miền Bắc tập trung vào xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, trong khi miền Nam trải qua thời kỳ biến động chính trị và xã hội dưới sự chi phối của chế độ Mỹ - Diệm. Tình hình kinh tế - xã hội cả hai miền đều gặp nhiều khó khăn sau chiến tranh, yêu cầu những chính sách khôi phục và phát triển cấp bách.

1.1. Thực Trạng Kinh Tế Xã Hội Miền Bắc

Miền Bắc sau Hiệp định Genève 1954 phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế chìm trong khủng hoảng. Chính sách cải cách ruộng đất được triển khai để giải quyết vấn đề đất đai. Đồng thời, hàng triệu đồng bào di cư từ miền Nam lên Miền Bắc, tạo áp lực về dân số. Chính quyền Việt Minh phải vừa chống lại các âm mưu xâm lược từ Mỹ, vừa thực hiện các chính sách phục hồi kinh tế.

1.2. Tình Hình Miền Nam Dưới Chế Độ Mỹ Diệm

Miền Nam Việt Nam từ 1954-1960 chịu sự kiểm soát của chế độ Mỹ - Diệm. Ngo Dinh Diệm áp dụng những chính sách độc tài, khiến dân chúng bị áp bức. Phong trào Đồng khởi nổ ra từ 1959 thể hiện sức kháng cự của nhân dân miền Nam. Mỹ cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế để hỗ trợ chế độ Diệm, nhằm ngăn chặn sự lan rộng của cách mạng xã hội chủ nghĩa từ miền Bắc.

II. Giai Đoạn Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Miền Bắc 1961 1965

Giai đoạn từ 1961-1965 là thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của miền Bắc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1960 đã định hướng các nhiệm vụ cách mạng mới. Miền Bắc bắt đầu thực hiện kế hoạch kinh tế 5 năm (1961-1965), tập trung vào phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Đồng thời, miền Bắc cũng tăng cường hỗ trợ cho cuộc kháng chiến miền Nam chống lại chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Giai đoạn này khẳng định vai trò trung tâm của miền Bắc trong cuộc giải phóng dân tộc.

2.1. Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Những công trình xây dựng trọng điểm như thủy điện, nhà máy công nghiệp được ưu tiên. Cải tạo quan hệ sản xuất tiếp tục được thực hiện để chuyển đổi nền kinh tế từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa. Lao động được tổ chức theo hợp tác xã, tăng cường hiệu suất sản xuất nông nghiệp.

2.2. Miền Nam Chống Chiến Lược Chiến Tranh Đặc Biệt

Mỹ triển khai chiến lược Chiến tranh đặc biệt ở miền Nam từ 1961, nhằm dập tắt phong trào cách mạng. Các lực lượng cách mạng miền Nam, được hỗ trợ từ miền Bắc, tổ chức đấu tranh chống lại áp bức. Mặt trận Giải phóng miền Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam) được thành lập năm 1960, trở thành tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam.

III. Chiến Tranh Mỹ Ở Việt Nam 1965 1973

Từ năm 1965, Mỹ tăng cường can thiệp quân sự ở Việt Nam bằng Chiến tranh cục bộ - còn gọi là Chiến tranh Mỹ ở Việt Nam. Không quân Mỹ tiến hành chiến dịch Lôi Sét (Operation Rolling Thunder) - một cuộc ném bom liên tục vào miền Bắc và miền Nam kéo dài từ 1965-1968. Miền Bắc vừa phải chống chiến tranh phá hoại, vừa tiếp tục sản xuất phục vụ nền kinh tế kháng chiến. Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 là bước ngoặt lớn, chứng minh sức mạnh của lực lượng cách mạng miền Nam. Bất chấp được cung cấp vũ khí hiện đại, Mỹ không thể chiến thắng. Hiệp định Paris 1973 cuối cùng kết thúc sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

3.1. Chiến Lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh 1969 1973

Sau thất bại của Chiến dịch Tết 1968, Mỹ triển khai chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Mục tiêu là rút quân Mỹ khỏi Việt Nam trong khi tăng cường hỗ trợ cho quân Sài Gòn. Tuy nhiên, lực lượng cách mạng miền Nam vẫn tiếp tục đấu tranh chống địch, không cho phép bình định - lấn chiếm của địch. Các chiến dịch quân sự của miền Nam ngày càng mạnh mẽ, kiên định.

3.2. Miền Bắc Trong Thời Kỳ Kháng Chiến

Miền Bắc đóng vai trò hậu phương chiến lược cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Nhân dân miền Bắc lao động sản xuất vừa để tự cấp, vừa để hỗ trợ cho miền Nam. Hệ thống đường Hồ Chí Minh được mở rộng liên tục, đảm bảo cung cấp vũ khí, quân đội cho miền Nam. Chiến tranh phá hoại lần thứ hai (1972-1973) của Mỹ cũng được miền Bắc vượt qua.

IV. Giải Phóng Hoàn Toàn Miền Nam Và Thống Nhất Đất Nước 1973 1975

Sau Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, nhưng chế độ Sài Gòn vẫn tiếp tục chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Miền Bắc tiếp tục khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa, đồng thời tăng cường hỗ trợ cho miền Nam. Cuộc tổng tiến công Tết 1975bước ngoặt cuối cùng, đưa lực lượng cách mạng miền Nam đến chiến thắng chóng vánh. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn giải phóng, đánh dấu thống nhất toàn quốckết thúc cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm. Giai đoạn 1954-1975 trong lịch sử Việt Nam trở thành biểu tượng của bản lĩnh, quyết tâm của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

4.1. Tình Hình Sau Hiệp Định Paris 1973

Hiệp định Paris 1973 yêu cầu Mỹ rút toàn bộ quân đội, nhưng chế độ Sài Gòn được Mỹ tiếp tục hỗ trợ về quân sự và kinh tế. Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh vẫn tiếp tục, chế độ Sài Gòn cố gắng lấn chiếm lãnh thổlực lượng cách mạng miền Nam kiểm soát. Tuy nhiên, thế cân bằng quân sự đã thay đổi theo chiều hướng thuận lợi cho lực lượng cách mạng.

4.2. Chiến Dịch Tổng Tiến Công Tết 1975 Và Thống Nhất

Cuộc tổng tiến công Tết 1975 được miền Bắc tổ chức tổng động viên hỗ trợ. Lực lượng cách mạng miền Nam với sự chỉ huy tập trung, tiến hành các chiến dịch quân sự liên tiếp, tấn công các vị trí chiến l略 của chế độ Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn giải phóng, toàn bộ miền Nam được giải phóng, Việt Nam thống nhất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

13/07/2025
Giáo trình lịch sử việt nam tập 7 từ 1954 đến 1975 nxb đại học sư phạm 2012 trần bá đệ 340 trang

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm tại miền Nam. Tiếp theo, Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954) được kí kết, khách quan tạo cơ hội để Mĩ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam thông qua chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mĩ đã chuyển từ vai trò một kẻ can thiệp sang kẻ xâm lược; và Việt Nam từ đây giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu phan cách mạng của Mĩ. Ngày 23-7-1954, bai ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, Ngoại trưởng Mĩ Dalét (Dulles) tuyén bé: "Ti nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc đĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miên Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ỏ Đông Nam A va Tay Nam Thdi Binh Duong".

Ngày 3-8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mi cho rằng: "Hiệp định Giơnevơ 1954 là một thẩm họa, đã hoàn thành bước quan trọng của chit nghĩa cộng sản, có thể dẫn tới mat cd Déng Nam A", Tháng 9-1954, Mi lôi kéo một số nước (Anh, Pháp, Niu Dilan, Oxtraylia, Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên mình quân sự Đông Nam A" (SBATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi kí kết Hiệp định Giơnevơ, tồn tại ba lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân. Pháp), Mi (và các thế lực thân M?) và các lực lượng cách mạng miền Nam. Pháp và các lực lượng thân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt: Mĩ - Diệm và nhân dân miền Nam.

Ñ) Trân Bá Đệ: Lịch sử Việt Nam từ 1856 đến nay. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000, tr. 4) Hoàng Tùng: Tháng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974, tr.

14 Về phía Việt Nam, ngay khi Hội nghị Giơnevơ đang đi vào hồi kết, ngày 17-7-1954, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II họp ở Việt Bắc. Hội nghị đã thảo luận và nhất trí với đường lối và chủ trương mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra. Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mĩ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”?), Hội nghị quyết định: “Thay đổi phương chám, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt.

Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng mục đích của cách mạng vẫn là một”), : Đầu tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã kịp thời ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng”, nêu rõ cuộc đấu tranh của nhân dan ta đã bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đê phòng và khắc phục mọi âm mưu phá Hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra súc hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị của nhân dân miễn Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc "®), Sau 300 ngày thị hành Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc được giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành; trong lúc đó, miền Nam đang nằm dưới ách thống trị của Mĩ - Diệm. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây vẫn chưa hoàn thành. Vì vậy, cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình chưa kết thúc; cuộc đấu tranh đó còn phải được tiếp tục dưới nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp.

Trong cuộc đấu tranh này, Đảng đã lãnh dao nhan dan hai miền Bắc - Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau: Miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng đân tộc, dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, tiến tới hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất nước nhà. Hội nghị Trung ương lần thứ 8§ (khóa II) tháng 8-1955 khẳng định: "Điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu () Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. ©) Van kién Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954).

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. ©) Van kién Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. lỗ tranh của nhân dân miền Nam.

Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”®), Nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng mỗi miền xét cho cùng cũng là nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đấu tranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mỗi chiến lược cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể riêng của từng miền, nhưng có mối quan hệ chặt chế, khăng khít, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà còn nhằm giải phóng miền Nam và đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau khi đất nước thống nhất.

Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân miền Nam vừa có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa có nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóng miền Nam, đồng thời cũng sử dụng sức mạnh của cả nước để bảo vệ và xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng đồng thời cũng là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước của toàn dân tộc.

Đây là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975. Như vậy, về phía Mĩ, do yêu cầu chiến lược phải ngăn chặn bằng được lực lượng cách mạng ở Đông Nam Á và chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mĩ đã chọn Việt Nam làm điểm then chốt; còn một bên là các lực lượng cách mạng mà nhân dân Việt Nam là đội xung kích, cần phải đẩy lùi chủ nghĩa đế quốc ra khỏi vị trí chiến lược này để đưa cách mạng tiến lên. Hai lực lượng đối kháng, đại diện cho cách mạng và phản cách mạng đã gặp nhau ở đây, tất yếu dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử. Từ thực tế đó, Việt Nam đã trở thành "một điểm trung tâm, một chặng đường trong quá trình phát triển lâu dài của cách mạng thế giới.

Đây là sự đụng đầu tiêu biểu giữa những lực lượng đối lập tiêu biểu của thời đại"? Nói cụ thể hơn, cuộc chiến đấu của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975 chống Mĩ xâm lược Ú Văn kiện Đảng, Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, r. @) Hoàng Tùng: Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Nxb Sự that, Hà Nội, 1974, tr.

16 không phải là một ngẫu nhiên, mà là một cuộc đụng đầu lịch sử trong thời đại chúng ta. MIEN BAC ĐẤU TRANH CHỐNG MĨ - DIỆM CƯỠNG ÉP ĐỒNG BAO DI CƯ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT (1954 - 1960) 1. Thực trạng kinh tế - xã hội miền Bác sau Hiệp định Giơnevơ 1954 Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), miền Bắc có thêm những điểu kiện chính trị - xã hội thuận lợi. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, những khó khăn là không ít, nhất là về kinh tế - xã hội do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại.

Trong các vùng nông thôn mới được giải phóng, hậu quả của các cuộc càn quét theo chính sách “fm quang” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), dồn dân lập “vành đai trắng” của địch, hàng vạn hécta đất bị bỏ hoang, đê đập bị phá hoại. Nhân công, nông cụ và sức kéo đều thiếu nghiêm trọng. Kĩ thuật canh tác lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém. Các thành thị trong thời kì Pháp chiếm đóng mang nặng tính chất tiêu thụ, sự phồn vinh chỉ là giả tạo.

Hàng ngoại tràn ngập thị trường làm cho công nghiệp dân tộc không phát triển được. Tiểu thủ công nghiệp bị chèn ép, sa sút hoặc phá sản. Ở những cơ sở công nghiệp lớn do thực dân Pháp nắm- giữ, như mỏ than Hòn Gai, nhà máy xi măng Hải Phong, nha may dệt Nam Định, nhà máy điện Hà Nội,. bị địch tháo dỡ thiết bị hoặc phá hoại trước túc rút lui nên không hoạt động được, hoặc chỉ hoạt động cầm chừng.

Vì thế, nhiều công nhân thất nghiệp, đời sống gặp khó khăn. Tại các vùng tự do cũ, tuy nông nghiệp và công nghiệp được chú ý phát triển, nhưng quy mô nhỏ bé, kĩ thuật lạc hậu. Do đó, năng suất thấp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên trong thời bình. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ năm 1953 cũng chỉ mới thực hiện ở một số địa phương thuộc vùng tự do.

Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫn tổn tại. Giai cấp nông dân tuy đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân, nhưng vẫn còn bị giai cấp địa chủ bóc lột, ánh hưởng không tốt đến sản xuất. Sau khi hòa bình lập lại, nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng đặt ra. Số người mù chữ rất đông.

Hệ thống y tế nhỏ bé, lạc hậu. Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu, sốt rét. Các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cướp giật, cờ bạc. phổ biến khắp nơi.

Hàng trăm ngàn người thất nghiệp, lâm 17 vào cảnh đói kém, 240.000 tế ngụy rã đám chưa qua cai tao, 11.000 phi van tác oai, tác quái ở vùng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ