mở đầu chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm tại miền Nam. Tiếp theo, Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954) được kí kết, khách quan tạo cơ hội để Mĩ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam thông qua chủ nghĩa thực dân mới. Đế quốc Mĩ đã chuyển từ vai trò một kẻ can thiệp sang kẻ xâm lược; và Việt Nam từ đây giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu phan cách mạng của Mĩ. Ngày 23-7-1954, bai ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, Ngoại trưởng Mĩ Dalét (Dulles) tuyén bé: "Ti nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc đĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miên Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ỏ Đông Nam A va Tay Nam Thdi Binh Duong".
Ngày 3-8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mi cho rằng: "Hiệp định Giơnevơ 1954 là một thẩm họa, đã hoàn thành bước quan trọng của chit nghĩa cộng sản, có thể dẫn tới mat cd Déng Nam A", Tháng 9-1954, Mi lôi kéo một số nước (Anh, Pháp, Niu Dilan, Oxtraylia, Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên mình quân sự Đông Nam A" (SBATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi kí kết Hiệp định Giơnevơ, tồn tại ba lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân. Pháp), Mi (và các thế lực thân M?) và các lực lượng cách mạng miền Nam. Pháp và các lực lượng thân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt: Mĩ - Diệm và nhân dân miền Nam.
Ñ) Trân Bá Đệ: Lịch sử Việt Nam từ 1856 đến nay. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000, tr. 4) Hoàng Tùng: Tháng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974, tr.
14 Về phía Việt Nam, ngay khi Hội nghị Giơnevơ đang đi vào hồi kết, ngày 17-7-1954, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II họp ở Việt Bắc. Hội nghị đã thảo luận và nhất trí với đường lối và chủ trương mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra. Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mĩ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương. và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”?), Hội nghị quyết định: “Thay đổi phương chám, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt.
Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng mục đích của cách mạng vẫn là một”), : Đầu tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã kịp thời ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng”, nêu rõ cuộc đấu tranh của nhân dan ta đã bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đê phòng và khắc phục mọi âm mưu phá Hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra súc hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị của nhân dân miễn Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc "®), Sau 300 ngày thị hành Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc được giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành; trong lúc đó, miền Nam đang nằm dưới ách thống trị của Mĩ - Diệm. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây vẫn chưa hoàn thành. Vì vậy, cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình chưa kết thúc; cuộc đấu tranh đó còn phải được tiếp tục dưới nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp.
Trong cuộc đấu tranh này, Đảng đã lãnh dao nhan dan hai miền Bắc - Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau: Miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng đân tộc, dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, tiến tới hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất nước nhà. Hội nghị Trung ương lần thứ 8§ (khóa II) tháng 8-1955 khẳng định: "Điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu () Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. ©) Van kién Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954).
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. ©) Van kién Đảng, Toàn tập, tập 15 (1954). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. lỗ tranh của nhân dân miền Nam.
Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố”®), Nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng mỗi miền xét cho cùng cũng là nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đấu tranh chống đế quốc Mĩ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mỗi chiến lược cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể riêng của từng miền, nhưng có mối quan hệ chặt chế, khăng khít, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà còn nhằm giải phóng miền Nam và đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau khi đất nước thống nhất.
Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân miền Nam vừa có nhiệm vụ giải phóng miền Nam, vừa có nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóng miền Nam, đồng thời cũng sử dụng sức mạnh của cả nước để bảo vệ và xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng đồng thời cũng là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước của toàn dân tộc.
Đây là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975. Như vậy, về phía Mĩ, do yêu cầu chiến lược phải ngăn chặn bằng được lực lượng cách mạng ở Đông Nam Á và chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mĩ đã chọn Việt Nam làm điểm then chốt; còn một bên là các lực lượng cách mạng mà nhân dân Việt Nam là đội xung kích, cần phải đẩy lùi chủ nghĩa đế quốc ra khỏi vị trí chiến lược này để đưa cách mạng tiến lên. Hai lực lượng đối kháng, đại diện cho cách mạng và phản cách mạng đã gặp nhau ở đây, tất yếu dẫn đến cuộc đụng đầu lịch sử. Từ thực tế đó, Việt Nam đã trở thành "một điểm trung tâm, một chặng đường trong quá trình phát triển lâu dài của cách mạng thế giới.
Đây là sự đụng đầu tiêu biểu giữa những lực lượng đối lập tiêu biểu của thời đại"? Nói cụ thể hơn, cuộc chiến đấu của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975 chống Mĩ xâm lược Ú Văn kiện Đảng, Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, r. @) Hoàng Tùng: Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Nxb Sự that, Hà Nội, 1974, tr.
16 không phải là một ngẫu nhiên, mà là một cuộc đụng đầu lịch sử trong thời đại chúng ta. MIEN BAC ĐẤU TRANH CHỐNG MĨ - DIỆM CƯỠNG ÉP ĐỒNG BAO DI CƯ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT (1954 - 1960) 1. Thực trạng kinh tế - xã hội miền Bác sau Hiệp định Giơnevơ 1954 Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), miền Bắc có thêm những điểu kiện chính trị - xã hội thuận lợi. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, những khó khăn là không ít, nhất là về kinh tế - xã hội do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại.
Trong các vùng nông thôn mới được giải phóng, hậu quả của các cuộc càn quét theo chính sách “fm quang” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), dồn dân lập “vành đai trắng” của địch, hàng vạn hécta đất bị bỏ hoang, đê đập bị phá hoại. Nhân công, nông cụ và sức kéo đều thiếu nghiêm trọng. Kĩ thuật canh tác lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém. Các thành thị trong thời kì Pháp chiếm đóng mang nặng tính chất tiêu thụ, sự phồn vinh chỉ là giả tạo.
Hàng ngoại tràn ngập thị trường làm cho công nghiệp dân tộc không phát triển được. Tiểu thủ công nghiệp bị chèn ép, sa sút hoặc phá sản. Ở những cơ sở công nghiệp lớn do thực dân Pháp nắm- giữ, như mỏ than Hòn Gai, nhà máy xi măng Hải Phong, nha may dệt Nam Định, nhà máy điện Hà Nội,. bị địch tháo dỡ thiết bị hoặc phá hoại trước túc rút lui nên không hoạt động được, hoặc chỉ hoạt động cầm chừng.
Vì thế, nhiều công nhân thất nghiệp, đời sống gặp khó khăn. Tại các vùng tự do cũ, tuy nông nghiệp và công nghiệp được chú ý phát triển, nhưng quy mô nhỏ bé, kĩ thuật lạc hậu. Do đó, năng suất thấp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên trong thời bình. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ năm 1953 cũng chỉ mới thực hiện ở một số địa phương thuộc vùng tự do.
Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫn tổn tại. Giai cấp nông dân tuy đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân, nhưng vẫn còn bị giai cấp địa chủ bóc lột, ánh hưởng không tốt đến sản xuất. Sau khi hòa bình lập lại, nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng đặt ra. Số người mù chữ rất đông.
Hệ thống y tế nhỏ bé, lạc hậu. Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu, sốt rét. Các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cướp giật, cờ bạc. phổ biến khắp nơi.
Hàng trăm ngàn người thất nghiệp, lâm 17 vào cảnh đói kém, 240.000 tế ngụy rã đám chưa qua cai tao, 11.000 phi van tác oai, tác quái ở vùng cao.