mở đầu ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍDH VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU LICH SU TRIET HOC MAC Triét hoc Mac do C. Lênin sáng lập và phát triển từ cuối nửa đầu thế kỷ XIX đến đầu thé ky XX, trong dé C. Mác là linh hồn của toàn bộ học thuyết. Đồng thời với quá trình đó và sau khi các nhà kinh điển mácxít qua đời, triết học Mác còn được phát triển hơn bởi các nhà hoạt động, nghiên cứu lý luận kể cả mácxít và phi mácxít.
Quá trình phát sinh và phát triển triết học | Mac đã trổ thành một bộ phận hữu cơ của lịch sử triết học nhân loại nói chung. Vì thế, nghiên cứu lịch sử triết học Mác là một nội dung không thể thiếu của một môn học chung là lịch sử triết học. Tuy nhiên, cũng như mỗi một học thuyết, một giai đoạn của lịch sử triết học nhân loại, căn cứ vào những yêu cầu thực tiễn và nhận thức cụ thể, -_ có thể tách ra, xây dựng lịch sử triết học Mác thành một môn học độc lập với việc xác định đối tượng, mục đích, phương pháp và ý nghĩa riêng trong nghiên cứu. Trong lịch sử triết học Mác, giai đoạn C.
Lênin sáng lập và phát triển học thuyết của các ông có vị trí hết sức quan trọng. Nghiên cứu giai đoạn này không 13 chỉ có ý nghĩa tiền đề cho nghiên cứu các giai đoạn tiếp theo của nó, mà còn rất cần thiết đối với việc phát triển hơn triết học Mác nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn và nhận thức. Đối tượng của lịch sử triết học Mác với tư cách một khoa học : Cùng với kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, triết học Mác là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác - một hệ thống lý luận chặt chẽ, cân đối nằm trên “con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới”. Triết học Mác là một hệ thống tri thức lý luận phổ biến, có nội đung sâu sắc và rộng lớn, bao gồm hai thành phần lý luận cơ bản là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với các phương diện hợp thành của chúng là lý luận về sự tổn tại, phát triển của thế giới và của xã hội loài người nói chung, lý luận nhận thức, lý luận về phương pháp và lý luận về hệ thống ngôn ngữ đặc trưng.
Những phương diện này không chỉ thể hiện ở toàn bộ hệ thống của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà còn ở từng nguyên lý, quan điểm, học thuyết cấu thành của chúng. Đồng thời, triết học Mác còn bao gồm những tư tưởng, quan điểm triết học có ý nghĩa nền tảng cho việc xây dựng các hệ thống lý luận triết học khác, đó là những tư tưởng, quan điểm triết học về khoa học, pháp quyền, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo và về lịch sử triết học, v. Lịch sử triết học Mác với tư cách là quá trình phát sinh, phát triển của 14 những nội dung và hình thức lý luận rất rộng lớn và nhiều mặt ấy là quá trình bên trong của nó và quá trình này liên quan chặt chẽ với những tiền đề kinh tế, xã hội - lịch sử của nó. Cho nên, nghiên cứu lịch sử triết học Mác trước hết là nghiên cứu sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa duy uột biện chứng uà chủ nghĩa duy uột lịch sử.
Việc nghiên cứu lịch sử hai học thuyết này còn bao gồm nhiều nội dung. Đó không chỉ là nghiên cứu lịch sử của. chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong chỉnh thể của chúng, mà còn là nghiên cứu riêng lịch sử của từng học thuyết ấy, còn là nghiên cứu lịch sử của mỗi quan niệm, quan điểm, thậm chí từng khái niệm của chúng. Với những phương diện nội dung nghiên cứu này có thể xuất hiện hai khuynh hướng tách biệt nhau, hoặc chỉ chú ý đến chỉnh thể, hệ thống, xem nhẹ yếu tố, sẽ đưa đến chủ nghĩa sơ đổ, trừu tượng, hoặc chỉ chú ý đến yếu tố, xem nhẹ chỉnh thể, sẽ dẫn đến việc hiểu triết học Mác một cách phiến diện, thậm chí lệch lạc.
Nghiên cứu sự hình thành, phát triển triết học Mác còn bao gồm cả việc nghiên cứu χch sử của những quan điểm, tư tưởng triết học của chủ nghĩa Mác uề khoa học, uề tự nhiên uò bhoa học tự nhiên, uề tôn giáo, đạo đúc, chính trị, thẩm mỹ, pháp quyên, uăn boú, lịch sử triết học, kinh tế uà chính trị, u. Những tư tưởng, quan điểm này của C. Lênin chưa phải là những học thuyết, hay những hệ thống lý luận hoàn chỉnh và chúng thuộc những lĩnh vực nhận thức triết học khác, 1ỗ i khong hoàn toàn nằm trong các hệ thống duy vật biện chứng hoặc duy vật lịch sử. Cho nên, có thể xem đây như một hoặc những nội dung khác của nghiên cứu lịch sử triết học Mác.
Tuy nhiên, trong chỉnh thể của lịch sử triết học Mác, những nội dung này cũng là những thành phần hữu cơ của nó. Nghiên cứu lịch sử triết học Mác còn bao gồm cả việc xem xét những tiên đề hinh tế xã hội uò lịch sử có tác dụng, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, quyết định hoặc không quyết định đến sự hình thành và phát triển của triết học Mác cả về hệ thống cũng như từng nguyên lý, quan điểm, học thuyết hợp thành của nó. _ Đương nhiên, nghiên cứu lịch sử triết học Mác không phải là xem xét theo lối hoàn toàn tách riêng từng nội dung như đã thấy, mà là xem xét nó uới # cách một tổng thể sinh động với biết bao sự kiện, biến cố cả về lý luận, hiện thực, thực tiễn kéo dài từ cuối nửa đầu thế kỷ XIX đến nay, trong đó quá trình hình thành, phát triển lý luận triết học nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với những tiền đề kinh tế, xã hội - lịch sử của nó. Mục đích nghiên cứu lịch sử triết học Mác Nghiên cứu lịch sử triết học Mác chủ yếu nhằm vạch ra tính đặc thù, cao hơn, tiến bộ hơn về nội dung, tính chất và ý nghĩa của triết học Mác so với các triết học trước nó, cho thấy triết học Mác là một giai đoạn, một kết.
quả tự nhiên và hữu cơ của lịch sử triết học nói riêng, lịch sử nhận thức nói chung, và do đó, của văn hoá, văn minh 16 loài người. Nghĩa là, phải chỉ ra một cách cụ thể cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình, được thể hiện trong sự hình thành, phát triển triết học Mác như thế nào; cho thấy tính hệ thống của triết học Mác có sự khác biệt so với các triết học trước nó ra sao; cho thấy triết học Mác đã kế thừa, đánh giá triết học cũ như thế nào, v. Một cách tóm tất, nghiên cứu lịch sử triết học Mác là nhằm vạch ra bẩn chất uà những quy luật của sự hành thành, phát triển triết học nói chung được thể hiện một cách đặc thù trong sự bình thành, phát triển triết học Mác. Tất nhiên, để nắm được tính đặc thù đó nhất định phải vạch ra (đính đặc thù của những tiền để, điều kiện lịch sử của nó.
Những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu lịch sử triết học Mác tất nhiên phải vận dụng những nguyên tắc, quan điểm và phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học nói chung. Tuy nhiên, ở đây chúng mang tính đặc thù. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận 0uề thực tiễn. Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là nghiên cứu lịch sử triết học Mác phải xuất phát từ thực tiễn hiện nay, nhằm giải đáp chính những yêu cầu, vấn để do nó đặt ra.
Nghĩa là phải trả lời các câu hỏi: Triết học Mác tiếp tục có vai trò như thế nào đối với thực tiễn hiện thời? Phải bảo vệ, khẳng định những giá trị, ý nghĩa khoa học, xã hội và 17 thực tiễn của triết học Mác như thế nào? Triết học Mác có hạn chế, khiếm khuyết gì, và do đó, có thể bổ sung, phát triển nó ra sao? Một cách căn bản, đối với chúng ta, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đồi hỏi phải xuất phát từ những lợi ích xã hội thực tiễn, cụ thể là lợi ích của những lực lượng xã hội tiến bộ để nghiên cứu lịch sử triết học Mác. Cũng như trong nghiên cứu lý luận nói chung, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc hàng đầu của nghiên cứu lịch sử triết học Mác. Phương pháp hết hợp giữa lôgích uà lịch sử. Phương pháp lôgích xem xét quá trình hình thành, phát triển bên trong của triết học Mác, nhằm vạch ra bản chất, nội dung cơ bản, những đặc trưng, tính chất cơ bản của nó, chỉ ra nội dung, quan điểm triết học cơ bản của mỗi tác phẩm, tài liệu.
Phương pháp lôgích còn đồi hỏi phải thấy được thành tựu cơ bản nhất của lịch sử triết học Mác. Một đòi hỏi khác ở đây là phải đem những quan điểm triết học Mác đã được tổng kết dưới hình thức lý luận để “soi” vào lịch sử triết học Mác, nhưng cần phải biết làm cho những quan điểm lý luận ấy trở nên mềm dẻo, năng động. Phương pháp lôgích còn đồi hỏi phải vạch ra bản chất, nội dung cơ bản của những tiền đề lịch sử và cơ chế của chúng trong sự quy định lịch sử triết học Mác. Tuy nhiên, phương pháp lôgích phải được kết hợp chặt chẽ với phương pháp lịch sử.
Không thể nắm được tiến trình bên trong của lịch sử triết học Mác ở bên ngoài lịch sử của nó. Phương pháp lịch sử xem xét sự hình thành, phát triển 18 triết học Mác với mọi tổn tại, biểu hiện của nó theo thời gian. Chính ở đây phương pháp lôgích yêu cầu phải gạt bỏ đi những tổn tại, biểu hiện bể ngoài, không cơ bản cả về hiện thực lẫn tiến trình của bản thân lý luận. Lịch sử là tiền để, điều kiện của lôgích, nhưng nó phải được lôgích và lôgích hoá.
Sự kết hợp giữa lôgích và lịch sử làm cho phương pháp lôgích cũng có nghĩa là phương pháp lịch sử, nhưng trong đó lịch sử đã được rút ngắn, được tổ chức lại. Phương pháp kết hợp giữa lôgích và lịch sử có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc thực hiện mục đích cơ bản của nghiên cứu lịch sử triết học Mác.