đặt vấn đề xem xét lịch sử phát triển của ngôn ngữ ấy trong bối cảnh địa lý - ngôn ngữ trong một khu vực cụ thể. Đối với trường hợp tiếng Việt, công việc này về thực chất là xác định xem tiếng Việt có bà con họ hàng, hay nói một cách khác có liên hệ về nguồn gốc với những ngôn ngữ nào ở khu vực Đông Nam Á, một địa bàn mà Việt Nam là một phần lãnh thổ cấu thành nên nó. | Nghiên cứu nguồn gốc ngôn ngữ và quá trình phát triển của nó là công việc của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử. Khuynh hướng nghiên cứu này của khoa ngôn ngữ học ra đời từ cuối thế kỷ XVIII ở châu Âu.
Nó rất phát triển ở thế kỷ thứ XIX với việc xác lập họ ngôn ngữ Ấn - Âu và đã thu được những kết quả rất quan trọng cả về mục đích cũng như phương pháp. Những hệ thao tác mà khuynh hướng nghiên cứu này xác lập nên đã cung cấp và giúp cho các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu những họ ngôn ngữ ở những vùng khác nhau trên thế giới. Vào thế kỷ XX, 17 cùng với việc hoàn chính những thành tựu đã thu được trước đây, cùng với việc mở rộng địa bàn ngôn ngữ được nghiên cứu ở những địa bàn khác nhau, ngôn ngữ học so sánh - lịch sử vươn tới xác lập họ hàng ngôn ngữ ở những vùng lãnh thổ khác ngoài địa bàn Ấn - Âu trong đó có vùng châu Á và Đông Nam A. Việc nghiên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển lịch sử của tiếng Việt chính là một trường hợp áp dụng phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử đối với những ngôn ngữ cụ thể ở vùng Đông Nam Á.
Do đó, nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, nhờ tính đặc thù của nó, sẽ góp phần bổ sung và làm phong phú các thao tác của khuynh hướng nghiên cứu so sánh - lịch sử ngôn ngữ nói chung và ở Việt Nam cũng như vùng Đông Nam Á nói riêng. Với góc nhìn so sánh lịch sử như vậy, trước khi trình bày những vấn đề cụ thể về nguồn gốc và quá trình phát triển của tiếng Việt, việc tìm hiểu những vấn đề địa lý liên quan đến nó là rất cần thiết. Bởi vì, mối liên hệ giữa lịch sử phát triển, tức mặt thời gian, với môi trường phát triển, tức mặt không gian, là mối liên hệ có tính bản chất của bất cứ một sự phát triển nào. Đối với ngôn ngữ học, mối liên hệ này đã được E.
Saussure, nhà ngôn ngữ học đặt nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại, phân tích khá rõ trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương khi ông trả lời cho câu hỏi đo chính ông nêu ra về nguyên nhân tạo nên sự khác biệt trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ [106; 334]. Như vậy, vấn đề nhận biết rõ môi trường địa lý ở đó ngôn ngữ phát triển là một đồi hỏi có tính lý luận của nghiên cứu so sánh - lịch sử. Ở mặt cụ thể, khi nhận biết rõ môi trường địa lý ở đó tiếng Việt phát triển, chúng ta sẽ có thêm điều kiện để phân biệt những nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ nhưng rất quan trọng tác động đến sự phát 18 triển của ngôn ngữ, có thêm điều kiện để nhận biết những mối quan hệ khác nhau liên quan đến quá trình phát triển của bản thân nó. NHŨNG NÉT CHÍNH VỀ ĐỊA LÝ VÙNG ĐÔNG NAM Á _ 'Việt Nam là một quốc gia thưộc vùng địa lý Đông Nam Á.
Trong quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ này, tiếng Việt là một ngôn ngữ của cư dân vừa có số người nói đông đảo, vừa là - cư dân chủ thể ở Việt Nam nên nó là một trong số những ngôn ngữ quan trọng nhất ở trong vùng Đông Nam Á. Vì vậy, để nghiên cứu thật đầy đủ lịch sử của ngôn ngữ này, trước 'hết chúng ta phải đặt và xem xét nó trong bối cảnh địa lý- ngôn ngữ vùng Đông Nam Á, là môi trường địa lý tự nhiên đa dạng mà ở đó tiếng Việt tồn tại và phát triển trong suốt chiều đài lịch sử của mình.1 Phân biệt các nước Đông Nam Á và vùng địa lý Đông Nam Á 1. 1 Các nước Đông Nam Á Vào thời điểm hiện nay (năm 2004), ở địa bàn đang được quan tâm, chúng ta có thể nói đến một Đông Nam Á với mười một quốc gia khác nhau. Mỗi quốc gia trong vùng, không phân biệt thể chế chính trị, là một chủ thể hành chính nên có thể thấy việc liệt kê các nước trong khu vực là cách nhìn nhận địa lý Đông Nam Á theo cách nhìn thuần tuý hành chính.
Do đó, chúng ta cũng có thể nói đây là vùng Đông Nam Á hành chính. Pham vị địa lý của vùng Đông Nam Á này, như vậy, là căn cứ 19 vào ranh giới hành chính quốc gia của mười một nước Đông Nam Á. Theo đó, chúng ta có thể kể tên các quốc gia Đông Nam Á như sau: _ a. Những quốc gia trong phần đất liền (hay còn được gọi là Đông Nam Á lục địa).
Ở về phía Tây Đông Nam Á là quốc gia Mianma (hay trước đây có tên là Miến Điện). Từ Mianma, chuyển sang phía Đông là Vương quốc Thái Lan. Tiếp theo là nước CHDCND Lào ở về phía Bắc và Vương quốc Cămpuchia ở về phía Nam. Ở phần phía Đông của lục địa Đông Nam Á là nước CHXHCN Việt Nam.
Phần lãnh thổ phía Tây của Vương quốc Malaysia (Mã LaI), tức là bán đảo Malaysia, cũng là phần. lãnh thổ nằm trong lục địa Đông Nam Á và là phân cực Nam của lục địa này. Như vậy, nhìn ở phần đất liền, ranh giới phía Tây của vùng Đông Nam Á. hành chính là đường biên giới giữa Ấn Độ, Bănglađet, vịnh Bengal và Mianma; trong khi đó, ranh giới phía Bắc của khu vực này là biên giới giữa Trung Quốc với các nước ' Mianma, Thái Lan, Lào và Việt Nam; còn lại, hai phía Đông và Nam là ven biển Đông của Việt Nam và biển Ấn Độ Dương của Malaysia.
Ở phạm vi địa lý này, chúng ta dễ đàng nhận thấy ving Dong Nam A đất liển gắn liền với những phần lãnh thổ khác bên cạnh là Ấn Độ và Trung Hoa. Đây là những vùng lãnh thổ được các nhà nghiên cứu nhân Văn cho rằng vốn có nền văn hoá cổ xưa rất phát triển. Trong thực tế hai nền văn hoá cổ xưa jang giéng không chỉ giới han ở riêng khu vực Đông Nam Á mà _ CÓ ảnh hưởng to lớn cả trên thế giới. Trong tình hình đó nền văn hoá Trung Hoa và nền văn hoá Ấn Độ, như mọi người đều biết, tự 20 đã có những ảnh hưởng quan trọng và sâu sắc đến sự hình thành đặc trưng văn hoá trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có sự phát triển của ngôn ngữ.
Những quốc gia thuộc phản hải đứo. Ngoài phần lục địa ra, Đông Nam Á còn có một phần quan trọng nằm ở biển Thái Bình Dương và biển Ấn Độ Dương thường được gọi là phần Đông Nam Á hải đảo. Phần hải đảo của vùng Đông Nam Á là một vùng địa lý nằm giữa biển Thái Bình Dương và biển Ấn Độ Dương. Phía Bắc là nước Cộng hoà Philippin (có tên gọi khác là Phi Luật Tân); tiếp theo là hai quốc gia có diện tích không lớn Brunay và Singapor; sau đó là phần lãnh thổ phía Đông (phần hải đảo) của Vương quốc Malaysia trên đảo Broneo.
Ở phần phía Nam lãnh thổ phía Đông Vương quốc Malaysia là nước Cộng hoà Inđônêxia với nhiều đảo lớn nhỏ khác nhau. Phần phía cực Đông nước Cộng hoà Inđônêxia là nước Cộng hoà Đông Timo vừa mới thành lập. Như vậy, phía Tây của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo là phần Đông Nam Á lục địa; ba mặt còn lại giáp với hai đại dương là biển Thái Bình Dương và biển Ấn Độ Dương. Do vị trí địa lý như trên, phân Đông Nam A hii dao, thoạt nhìn có vẻ tách biệt với phần Đông Nam Á lục địa.
Tuy nhiên, về thực chất sự ngăn cản của biển không những không tách biệt mà còn tạo thành một vùng lãnh thổ tương đối thống nhất. Như sau này chúng ta sẽ thấy, sự thống nhất ấy thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, trong đó có mặt ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau trong toàn vùng Đông Nam Á. Về mặt chính trị, hiện nay các quốc gia Đông Nam Á đang tập hợp và đoàn kết trong một khối hướng tới sự thống nhất về kinh tế, gọi là khu vực ASEAN. Sự tập hợp này, trong một chừng 21 mực nào đó, là sự phản ánh một số nét tương đồng về mặt văn hoá truyền thống giữa các quốc gia trong khu vực.
Trong thực tế, ở khía cạnh ngôn ngữ, khu vực Đông Nam Á đã có những tương đồng, những mối liên hệ, những mối liên quan với nhau khá chặt chẽ từ xa xưa. Và trong một mức độ nhất định chính ngôn ngữ đã góp phần làm cho sự tương đồng về mặt văn hoá giữa các quốc gia trong khu vực càng thêm bền chặt không chỉ trong quá khứ trước đây, mà trong cả hiện tại và tương lai. + 2 Vùng địa lý Đông Nam Á hay Đông Nam Á văn hoá Tuy nhiên, trong tình hình nghiên cứu hiện nay, đối với công việc tìm hiểu lịch sử ngôn ngữ, vùng Đông Nam Á mà chúng ta sẽ nói tới đưới đây là một khu vực lãnh thổ không thể chỉ thuần tuý bó hẹp gồm mười một nước Đông Nam Á như đã trình bày ở trên. Nó còn phải bao gồm cả phần lãnh thổ phía Nam Trung Quốc với ranh giới tự nhiên gần như trùng khít với sông Trường Giang (hay còn có tên gọi khác là sông Dương Tử) và cả phần phía Đông Ấn Độ hiện nay (gồm cả phần đất Bangladet va những bang thuộc vùng Đông sông Hằng của Ấn Do).
Nhu vay, ranh giới tự nhiên ở phần lãnh thổ này cũng là một con sông Tớn của Ấn Độ và có vị trí văn hoá rất quan trọng trong khu vực: sông Hàng. Qua ranh HIớI tự nhiên đó có thể nói, địa lý Đông Nam Á mà chúng ta quan tâm là một phần lãnh thổ rất rộng lớn hơn nhiều. Nói một cách khác, đây là vùng Đông Nam Á mỡ rộng và là vùng lãnh thổ của các khỏa học nhân văn trong đó có ngành: Ngôn ngữ học. Điều này cũng đã được Hà - Văn Tấn nói đến khi ông nhìn nhận nó ở khía cạnh khảo cổ học: "Trong thời tiền sử và sơ sử, vùng.
đất từ phía Nam sông Dương Tử nên coi là thuộc khu vực văn hoá Đông Nam A thì đúng hơn.